Open top menu
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tai-nguyen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tai-nguyen. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020
no image

Bà Huỳnh Thị Cúc (hẻm 44, đường Chuyên Dùng 9, phường Phú Mỹ, quận 7, Tp.HCM) kể, năm 2004 gia đình bà mua 500m2 từ ông Ngô Chí Hải và bà Nguyễn Trường Giang. Sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý, ngày 06/9/2004, bà Cúc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tại quyển số 00140 QSDĐ/177HĐH2004 do UBND quận 7 ban hành. Từ năm 2006 đến 2008, gia đình bà Cúc tiếp tục mua thêm 700m2 đất của vợ chồng ông Hải và bà Giang, gộp chung các thửa nâng tổng diện tích đất sở hữu là 1.200 m2. Phần đất trên bà Cúc quản lý, sử dụng lâu dài và không tranh chấp từ thời điểm nhận chuyển nhượng cho đến bây giờ.

Sau khi mua đất, hai bên thỏa thuận, bà Cúc bỏ ra 1,5m ngang từ mép tường nhà ra phía đường Chuyên Dùng 9 còn phía ông Hải, bà Giang bỏ tiền để làm đường đi công cộng, phục vụ dân sinh. Thỏa thuận xong, bà Cúc tiến hành xây tường rào bảo vệ phần đất, một phần lo sợ nguy cơ sạt lở, đồng thời trồng thêm nhiều cây dừa để giữ đất, tạo cảnh quan thiên nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Bà Huỳnh Thị Cúc và lá đơn kêu cứu.

Năm 2014, Công ty TNHH Thương mại Thủy sản Ngân Phú đến mua mảnh giáp ranh với đất bà Cúc do vợ chồng ông Trần Văn Hải và bà Đoàn Thị Tý bán (thửa đất số 46 tờ bản đồ số 35). Sau khi nhận chuyển nhượng, Công ty Ngân Phú tiến hành san lấp, đổ cát để phân lô bán nền.

Ngày 07/9/2020, Công ty Ngân Phú bất ngờ đưa một số đối tượng lạ mặt đến gửi giấy thông báo, yêu cầu trong 03 ngày bà Cúc phải di dời hàng dừa và bức tường kiên cố mà bà Cúc xây dựng để bảo vệ khuôn viên đất của mình. Nhóm người này đe dọa, quá thời hạn sẽ tiến hành cưỡng chế, đập phá các tài sản nói trên!?

Đúng 3 ngày sau, ngày 10/9/2020, một lực lượng hùng hậu xuất hiện cùng các phương tiện cơ giới nặng như: máy xúc, máy đào... ngang nhiên chặt móc rễ các cây dừa do bà Cúc trồng và phá tường rào giữ đất. Kết quả, bức tường xây dựng để bảo vệ khuôn viên bị đánh sập, cây cối, vườn tược bị hủy hoại... Bà Cúc kể lại, nhóm người này không cung cấp được giấy tờ gì liên quan mà công khai đập phá nhưng chính quyền địa phương vẫn làm ngơ. “Vào thời điểm xảy ra sự việc, chúng tôi có mời UBND phường và công an đến xử lý. Khi có mặt các cơ quan chức năng tại đó, các đối tượng vẫn ngang nhiên đập phá mà chính quyền chỉ đứng nhìn, xong lập biên bản rồi ra về”, bà Cúc bức xúc nói.

Sau khi hủy hoại cây cối, tường rào, Công ty Ngân Phú cho người tiến hành cải tạo con đường vừa chiếm đoạt, hoàn thiện đưa vào sử dụng vào ngày 22/9/2020 để phục vụ cho việc kinh doanh nền đất.

Con đường do Công ty Ngân Phú làm tại hẻm 44 Chuyên Dùng 9.

Bà Cúc còn cho biết, từ khi nhóm đối tượng tới đập phá, các thành viên gia đình bà lúc nào cũng trong tình trạng lo lắng, cửa nhà luôn luôn đóng, không dám ra đường.

Bà Cúc thở dài: “Đây là hành động coi thường pháp luật, ngang nhiên “cướp” đất của Công ty Ngân Phú. Thời điểm bị hủy hoại tài sản, tôi bất lực nhìn nhóm côn đồ dùng máy xúc cuốc nát đường nhà tôi mới làm. Dù tôi đã trình báo lên cơ quan chức năng nhưng nhận lại sự thờ ơ, vô cảm của chính quyền sở tại. Sau đó, trước sự quyết liệt của tôi, UBND phường Phú Mỹ đã cử địa chính phối hợp với quản lý đô thị kiểm tra hiện trường thì tài sản đã bị hủy hoại gần 70%. Tuy vậy, các đơn vị nghiệp vụ cứ ậm ừ cho qua, đến nay, sự việc vẫn chìm trong im lặng trước sự mòn mỏi, trông mong của người dân vào công lý”.

Hiện trạng tường và mái tôn nhà bà Huỳnh Thị Cúc sau khi bị đập phá.

Dư luận đang thắc mắc, Công ty Ngân Phú là ai mà có thể ngang nhiên lộng hành như vậy?! Chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng phường Phú Mỹ và quận 7 sớm vào cuộc kiểm tra, xử lý dứt điểm xử việc, tránh gây bất an trong nhân dân và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân./.

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Tại Kỳ họp thứ 22 của HĐND TP.HCM, các đại biểu đã biểu quyết thông qua tờ trình của UBND Thành phố về việc huy động vốn để đầu tư Dự án “Cải thiện Môi trường nước TP.HCM, lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé – Đôi – Tẻ, giai đoạn 2” theo phương án vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ.

Theo đó, giá trị khoản vay lần thứ 4 từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ là 10.813 triệu Yen, tương đương hơn 2.378 tỉ đồng để thực hiện Dự án “Cải thiện Môi trường nước TP.HCM, lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé – Đôi – Tẻ giai đoạn 2”. Đây là khoản vay cuối cùng để thực hiện dự án; thời hạn vay là 30 năm, trong đó ân hạn 10 năm và thời gian trả nợ gốc là 20 năm. Nguồn tiền trả nợ sẽ được bố trí từ ngân sách TP.HCM hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định để trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

Phát biểu tại kỳ họp, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Võ Văn Hoan cho biết, dự án “Cải thiện Môi trường nước TP.HCM, lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé – Đôi – Tẻ” đã trải qua 8 năm; chia làm 4 giai đoạn vay vốn. Công việc hiện tại là nạo vét kênh Đôi – kênh Tẻ, xây dựng bờ kè, làm hành lang dọc hai con kênh. Khoảng 2 – 3 năm gần đây, dự án được đẩy nhanh tiến độ, khi hoàn thành, dự án không chỉ cải thiện môi trường nước trên kênh mà còn kiểm soát được ngập ở khu vực lân cận.

Ông Võ Văn Hoan cho biết, việc thi công dự án làm ảnh hưởng đến đi lại, sinh hoạt của người dân. Bởi vậy, UBND TP.HCM đang quyết liệt chỉ đạo tập trung giải quyết nhanh, nhất là các điểm trọng yếu.

“Thành phố sẽ tập trung giải quyết nhanh, dứt điểm các điểm trọng yếu, nút thắt. Tinh thần chung là quản lý thật tốt tiến độ, tính an toàn của công trình. Hy vọng với hiệp định vay thứ 4 này thì dự án sẽ sớm hoàn thành trong thời gian tới”, ông Hoan cho hay.

Dự án “Cải thiện Môi trường nước TP.HCM, lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé – Đôi – Tẻ giai đoạn 2" được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư tổng số vốn được duyệt là 11.281 tỉ đồng. Dự án được UBND TP.HCM phê duyệt, điều chỉnh lần cuối vào vào tháng 4/2020 với giá trị hoàn thành dự kiến là 8.878 tỉ đồng và hoàn thành vào tháng 6/2022.

Mục tiêu dự án là tiếp tục hoàn thiện hệ thống thoát nước mưa nhằm chống ngập úng, giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường cho những khu vực trũng của Thành phố và vùng lân cận thuộc lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé – Đôi – Tẻ theo đúng Quy hoạch tổng thể thoát nước TP.HCM đã được Chính phủ phê duyệt; đồng thời cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường thông qua xây dựng và phát triển hệ thống thu gom, xử lý nước thải.

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Đất hợp pháp không được cấp chủ quyền?

Năm 1972, ông Phùng Văn Phu canh tác mảnh đất 1,7ha thuộc phường Trảng Dài theo Luật Người cày có ruộng của chế độ cũ. Đến năm 1995, ông Đào Văn Hòa, nguyên Chủ tịch UBND phường Trảng Dài (nhiệm kỳ 1994 -2004) thỏa thuận đổi khu đất ông Phu đang canh tác sang khu đất mới tại thửa 179, tờ bản đồ số 4 thuộc phường Trảng Dài, diện tích 32.202,9m2.

Vợ và con cháu của ông Phùng Văn Phu tại mảnh đất sau cưỡng chế tại phường Trảng Dài

Ông Phu hợp đồng với Lâm trường Biên Hòa (LTBH, nay là Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa) để trồng rừng trên khu đất mới theo chủ trương phủ xanh đất trống đồi trọc của Chính phủ. Hợp đồng số 57/HĐKT ký ngày 25/7/1995 thể hiện ông Phu vay vốn của LTBH để trồng tràm bông vàng. Đến năm 2006, ông Phu thanh lý hợp đồng với LTBH và tiếp tục canh tác trên mảnh đất của mình. Do gia đình thuộc diện xóa đói giảm nghèo nên ông Phu được miễn nộp thuế hàng năm.

Ngày 6/10/2006, ông Phu đến UBND phường Trảng Dài kê khai đăng ký, xin được cấp quyền sử dụng đối với mảnh đất đang canh tác. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất TP. Biên Hòa đã xác nhận bằng biên nhận số 1246/PN-VPĐK-QSDĐ. Nhiều lần ông Phu đến hỏi về hồ sơ này thì bị hẹn lần hẹn lữa. Cuối cùng, ông được trả lời là hồ sơ đất của ông bị thất lạc và đất của ông trở thành...đất công!

Vợ và con cháu của ông Phùng Văn Phu tại mảnh đất sau cưỡng chế tại phường Trảng Dài

Tương tự, ở Nhơn Trạch, ông Lê Châu Tuấn ( ngụ 98D/1G, tổ 30, ấp Bến Sắn, xã Phước Thiền, Nhơn Trạch, Đồng Nai) khai hoang và cư ngụ trên đất rộng 11.000m2, thuộc tờ bản đồ 39, thửa 115 tại xã Phước Thiền từ năm 1990. Ngày 5/10/2020, ông Châu thuê một số người làm công đến đặt container cũ làm nhà ở tạm và dựng một nhà mái tôn, rào lưới B40 xung quanh thửa đất của mình. Công trình vừa tạm xong thì bỗng dưng xuất hiện một băng nhóm hàng chục người đến gây rối, đập phá nhà cửa, công trình. Theo camera mà ông Tuấn ghi lại, các đối tượng đến gây rối rất hung hãn, mang theo týp sắt đập phá mọi thứ như chỗ không người, thậm chí ban đêm mưa gió chúng cũng mặc áo mưa, chở nhau trên xe máy cầm theo gậy sắt đến đập nhà, phá rào.

Khu đất trũng mà ông Lê Châu Tuấn tranh chấp 28 năm nay với chính quyền xã Phước Thiền

Công an huyện Nhơn Trạch sau đó vào cuộc, xác minh các đối tượng giang hồ kia là thuộc nhóm đang “tranh chấp” phần đất mà ông Tuấn đang ở. Các đối tượng này gồm: Nguyễn Văn Cung (sinh 1981, ngụ ấp Trầu, Phước Thiện), Lê Văn Tuấn (biệt danh Tuấn Mập, quê quán Hải Phòng) và một người tên Hải (không rõ địa chỉ) cho rằng, một phần mảnh đất mà ông Lê Châu Tuấn đang ở, rộng 6.075m2, do nhóm 3 người họ chung tiền nhau mua của mẹ con bà Phan Thị Huẩn vào năm 2018. Thấy ông Tuấn xây cất trên đất của họ nên cùng nhau kêu gọi bạn bè hỗ trợ đến “nói chuyện phải quấy”!

Tuy nhiên, phía công an huyện Nhơn Trạch cũng cho biết, cả hai bên tranh chấp đều không hợp lệ vì mảnh đất này từ lâu đã là đất công! Sau 1975, thửa đất 115, tờ bản đồ 39 (theo bản đồ cũ là thửa 309, tờ bản đồ địa chính số 16) rộng 26.979m2 do Nông trường quốc doanh Đồng Khởi quản lý trồng thơm và cao su. Năm 1983, nông trường giải thể, một số hộ dân tự ý đến canh tác. Đến năm 1998, UBND xã Phước Thiền tổ chức kê khai đăng ký, cấp giấy đồng loạt nhưng mảnh đất trên không ai canh tác nên UBND xã đã đưa vào danh mục đất công do xã quản lý. Năm 2007, Nhà nước chủ trương thành lập bản đồ địa chính mới, cập nhật biến động đất đai nên một lần nữa cho người dân đăng ký nhưng mảnh đất vẫn không có người đăng ký hợp pháp nên chính quyền tiếp tục đưa vào diện đất công!

Những căn cứ pháp lý yếu ớt

Để thành công biến khu đất hơn 32.000m2 của ông Phùng Văn Phu đang canh tác thành đất công, chính quyền đã trù bị một kế hoạch. Đầu tiên, phường Trảng Dài xác định nguồn gốc đất trước 1995 là đất hoang hóa. Ông Hòa (lúc bấy giờ là Chủ tịch UBND phường) giao cho ông Phu (bằng miệng) trồng rừng cho phường vì lúc đó ông Phu là nhân viên hợp đồng của phường có hưởng lương. Tuy chính quyền phường không đưa ra được hợp đồng trồng rừng ký với LTBH theo đúng luật định nhưng để đủ “chứng lý”, ngày 8/7/2009 UBND phường Trảng Dài đã mời ông Phu họp để “kiểm tra xác minh nguồn gốc đất” và quá trình sử dụng mảnh đất hơn 32.000m2 nói trên. Trong cuộc họp này ông Phu ghi vào biên bản: “Ông Chủ tịch UBND phường cho biết lý do thu hồi đất trồng rừng của tôi dùng vào mục đích gì có phù hợp với dự án trồng rừng không cho tôi biết lý do” (nguyên văn). Dựa vào dòng chữ này, chính quyền phường Trảng Dài cho rằng ông Phu đã thừa nhận mảnh đất đang canh tác là đất công!

Từ căn cứ hết sức khiên cưỡng này các cơ quan chức năng “vận dụng” để trả lời tất cả đơn khiếu nại mà ông Phu gởi đến, từ UBND phường Trảng Dài, Sở Tài nguyên môi trường và cả UBND TP. Biên Hòa. Như vậy, ông Phu từ một người đi xin cấp quyền sở hữu biến thành người đi khiếu kiện, thậm chí trở thành người cư trú bất hợp pháp trên chính mảnh đất của mình! Ông Phùng Văn Phu vì quá uất đã đổ bệnh và ra đi vĩnh viễn vào năm 2013. Chị Phùng Thị Tuyết Nhung, con gái ông hiện giờ thay cha tiếp tục đội đơn đi khiếu kiện.

Khu đất trũng mà ông Lê Châu Tuấn tranh chấp 28 năm nay với chính quyền xã Phước Thiền

Trường hợp ông Lê Châu Tuấn đơn giản hơn. Vì đã xác định là đất công, thuộc quyền quản lý, sử dụng của UBND xã Phước Thiền nên ngày 27/02/2020, UBND xã đã tổ chức cưỡng chế hành vi lấn chiếm đất trên thửa 115 mà ông Tuấn đang ở. Lập luận của chính quyền luôn cho rằng, việc chiếm đất cất nhà là trái pháp luật mà không xem xét đến quá trình hình thành đất. Đó là công lao khai khẩn từ đất hoang hóa mà người dân phải dành cả một đời với bao nhiêu mồ hôi nước mắt mới có được, thậm chí kéo dài đến 2, 3 thế hệ. UBND xã Phước Thiền căn cứ vào 2 lần thông báo đăng ký đất đai năm 1998 và năm 2007 để cho rằng “đất không có người đăng ký” mà quản lý, sử dụng. Trong khi đó, theo ông Lê Châu Tuấn trình bày hoàn toàn trái ngược. “Năm 2008, Trưởng ấp Bến Sắn, xã Phước Thiền là ông Chánh cùng tôi và một cán bộ địa chính của tỉnh tiến hành đo đạc lại mảnh đất để gia đình tôi tiến hành làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, gia đình tôi nhận được Phiếu nhận đất ở bản đồ từ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ 39” (trích Đơn tố cáo ngày 27/7/2020 của ông Lê Châu Tuấn)

Cưỡng chế có giải quyết được vấn đề?

Cưỡng chế được chính quyền sử dụng như một biện pháp cuối cùng để giải quyết tranh chấp đất. Thế nhưng, trên thực tế việc cưỡng chế chỉ giải quyết được phần ngọn, đó là chưa kể còn là bước ngoặt mở đầu cho những đối đầu bất đắc dĩ giữa người dân và chính quyền.

Ngày 12/6/2020, UBND TP. Biên Hòa ra Quyết định 2970/QĐ-CCX cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với việc dựng tạm căn nhà 32,5m2 của ông Phu để rồi ngày 27/7/2020, UBND phường Trảng Dài họp các cơ quan: Phòng Tài nguyên Môi trường TP. Biên Hòa, Phòng Quản lý đô thị, Ban chỉ huy Công an TP. Biên Hòa...và nhiều ban ngành cùng tham gia cưỡng chế nhà tạm này! Kết quả, căn nhà bị phá sập, vợ con ông Phu kéo nhau đến “tá túc” tại UBND thành phố Biên Hòa để rồi sau đó công an phường Trảng Dài phải “mời” họ trở về che tạm một mái lều để ở!

Đối với ông Lê Châu Tuấn, ngày 27/02/2020, UBND xã Phước Thiền với đầy đủ ban bệ tiến hành cưỡng chế, buộc ông Tuấn phá bỏ các công trình đang xây dựng trên đất mà xã cho là đất công. Kết quả, ông Tuấn tiếp tục đội đơn cầu cứu và khẳng định “chính quyền xã đã cố tình sắp xếp để (các đối tượng giang hồ - NV) phá hoại tài sản và chiếm đất của gia đình tôi” (trích đơn)

Rõ ràng việc cưỡng chế không mang lại tiếng nói chung giữa người dân và chính quyền, thậm chí lại hỗn loạn thêm tình hình trật tự. Ơ Đồng Nai, rất nhiều trường hợp nhập nhằng giữa đất công và đất tư không được xử lý rốt ráo khiến người dân suốt ngày đi khiếu kiện còn chính quyền thì ỡm ờ giải quyết kiểu lấy lệ, thậm chí...trốn tránh! Và biện pháp cuối cùng được sử dụng chính là cưỡng chế!

Vấn đề cưỡng chế ở góc độ nào đó cũng thể hiện sự tích cực như mới đây nhất, cuối tháng 10/2020, lực lượng chức năng phường Phước Tân (TP. Biên Hòa) đã tiến hành cưỡng chế, bắt buộc khôi phục hiện trạng 8 công trình xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp, lâm nghiệp tại khu phố Vườn Dừa, Tân Mai, Tân Cang, Tân Lập thuộc địa bàn các phường. Đó là cách thức tái lập trật tự xây dựng trái phép tràn lan mà đối tượng vi phạm luôn cố tình vi phạm. Ở góc độ giải quyết nhập nhằng đất đai công – tư biện pháp cưỡng chế có vẻ như bị vô hiệu hóa vì mảnh đất khai phá gắn với máu thịt của người dân, thường kéo dài mấy chục năm mà một mảnh giấy A4 xác nhận quyền sở hữu đã tước đi của họ tất cả!

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Đào tung cả bãi phân lũ

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Văn T, một người dân thôn Ninh Tào xã Hợp Thịnh bức xúc cho biết ông và người dân trong làng Ninh Tào rât lo lắng trước tình trạng khai thác cát của Công ty CP Đức Long. Họ khai thác kiểu “đào gấp” nên trên bãi thì dùng máy xúc, xúc đào xuống, bố lên ô tô chở đi. Còn dưới sông, hàng chục chiếc tàu hút bâu vào như những “con đỉa” bám chặt để ngày đêm hút lên những dòng cát vàng đắt giá chở đi bán.

Ông T lo lắng nói: "Như vậy chẳng mấy chốc bãi soi Ninh Tào sẽ bị đào xuống thành sông. Phút chốc mọi hoa màu, bãi ruộng sẽ dần bị mất hết. Tất cả cũng chỉ vì nguồn lợi của 1 số cá nhân và quan chức địa phương mà thôi, còn người dân địa phương thì suốt ngày sống trong nỗi lo sạt lở đất, lờ bãi bồi ven sông". Cũng theo ông T, bãi soi Ninh Tào nằm giữa sông vô cùng quan trọng với dân làng ở đây, bởi nó có tác dụng phân lũ, giảm thiểu nước từ đầu nguồn đổ về khi mùa mưa bão. Vậy mà bất chấp tất cả, họ vẫn cấp cho doanh nghiệp khai thác.

Khi tiếp xúc với phóng viên, nhiều người dân xã Hợp Thịnh đều rất bức xúc về tình trạng bãi soi đang bị đào thành sông. Chị Trần Thị T, nhà gần đó cho biết: Hàng ngày, Công ty Đức Long dùng máy xúc, xúc hàng trăm xe đất chở đâu đó đổ để kiếm ăn. Đất màu thì họ mang đi bán cho đâu đó cần đất màu. Cát chở ra bãi… Việc chở đất này đã làm cho cả xã Hợp Thịnh bức xúc, bởi xe tải chở đất đi qua, rơi vãi, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Con đường trong xã từ đường bê tông thành đường đất. Ngày nắng thì bụi mù mịt, ngày mưa thì lầy lội, nhão nhoét. Đời sống nhân dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trên bờ đã vậy, dưới bờ sông còn thảm hại hơn. Những chiếc tàu gầu nạo xới, những vòi rồng cắm xuống ven bờ khụt khịt hút, bốc cát vàng lên tàu để mang bán. Suốt mấy tháng nay, cứ làm ngày, làm đêm khiến nhân dân vô cùng phẫn nộ, mà không sao giải quyết được. Người dân nhiều lần cãi vã với đám lái xe, lái tàu, nhưng rồi lại đâu vào đó, không giải quyết nổi.

Cũng theo phản ánh của bà con nhân dân, đến nay lòng sông Cầu đã loãng lên gấp 3 lần, nhiều đoạn hút xoáy nòng, và nguy cơ sạt lở đê, bãi bồi ven bờ sẽ sớm diễn ra. Được biết, quá bức xúc trước tình trạng khai khoáng trên, người dân địa phương đã gửi nhiều đơn thư đi kêu cứu, nhưng vô vọng.

Hiện trường khai thác cát của Công ty Đức Long ở bãi soi Ninh Tào góp phần khiến sông Cầu biến dạng

“Mục sở thị”, để ghi hình ngay tại bãi, phóng viên nhận thấy, phản ánh của người dân địa phương là có cơ sở. Để khai thác được cát, Công ty Đức Long đã cho máy xúc, ô tô vào giáp bờ sông khai thác phần đất mầu ở trên chở đi. Thuyền cát luôn túc trực phía dưới để đào xới, và dòng sông ngày 1 rộng ra là điều không tránh khỏi. Nhưng ai dám chắc, những bãi soi phân lũ này sẽ ra sao, nước lũ lúc đó ồ ạt gây ảnh hưởng để đời sống nhân dân, thì ai sẽ chịu trách nhiệm?.

Cấp mỏ có đúng quy định?

Qua điều tra, phóng viên được biết: Ngày 30/11/2018, UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành quyết định số 753/QĐ-UBND. Theo đó, UBND tỉnh Bắc Giang cho phép Công ty cổ phần đầu tư Đức Long được phép khai thác khoáng sản (cát, sỏi, đất) bằng phương pháp lộ thiên tại khu vực bãi soi Ninh Tào, thôn Ninh Tào, xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa.

Diện tích khu vực khai thác; 4,0 ha. Mức sâu khai thác thấp nhất: Đến cốt – 4,5m ( thấp hơn mặt bằng bãi soi tiếp giáp khu vực khai thác 11m. Trữ lượng khoáng sản chính ( cát, sỏi) là 186.827 m3. Trong đó: cát đen dùng xây, trát 84,632 m3; cát vàng đổ bê tông 74.665 m 3 ; sỏi cuội 27.530 m3. Trữ lượng khoáng sản đi kèm (đất) là 220.141 m 3. Trong đó: đất làm gạch 68.021 m3; đất san lấp 152.119 m3.

Phương pháp khai thác: Lộ thiên. Công suất khai thác khoáng sản (cát, sỏi): Năm thứ 1 là 14.753 m3/ năm. Năm thứ 2 đến năm thứ 7 là 24. 582 m3/ năm. Thời hạn khai thác 7,5 năm. Như vậy, để đến khi hết hạn giấy phép, có lẽ đoạn sông này không biết sẽ như thế nào nữa?.

Thuyền trong, thuyền ngoài đang hút cát ở khu vực bái soi Ninh Tào

Trao đổi với phóng viên, Luật sư Hà Thanh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) phân tích: Việc UBND tỉnh Bắc Giang cho Công ty CP đầu tư Đức Long được khai thác mỏ khoáng sản này trong 7,5 năm là có nhiều dấu hiệu bất thường. Bởi, căn cứ theo các quy định của pháp luật, thì đối với mỏ khoáng sản này, UBND tỉnh Bắc Giang phải đưa ra đấu giá, theo quy định của pháp luật, mới là đúng quy định. Chưa kể không rõ là đối với mỏ này, các đơn vị “định giá” số tiền là phải nộp là bao nhiêu?…

Trao đổi với phóng viên, một lãnh đạo UBND xã (xin không nêu tên) cho biết: Nguy cơ sạt lở bờ sông và ảnh hưởng đến đời sống nhân dân là có thật. Xúc đào tràn lan. Nhưng thẩm quyền của xã chỉ ở mức độ nhỏ, chưa kể phía chủ doanh nghiệp có mối quan hệ “khủng” nên cũng khó xử lý...

Việc quy trình cấp mỏ có đúng quy định của pháp luật? Việc bàn giao thực địa như thế nào?..., Báo Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục phản ánh.

Theo Nhật Quang - Đà Giang/Báo TN&MT

Let's block ads! (Why?)

Read more
Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020
no image

Trong trả lời chất vấn ĐBQH mới đây, giải pháp lấy nước sông Hồng pha loãng để xử lý ô nhiễm tại các dòng sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch và ô nhiễm ở Hà Nam một lần nữa được nhắc tới. Theo đó, giải pháp trước mắt, vẫn là điều tiết trạm bơm, xử lý nước thải ô nhiễm sông Tô Lịch và sẽ vận hành trạm cống Thanh Liệt, trạm bơm Yên Sở, trong đó có việc đưa nước thải pha loãng ra sông Hồng cũng như hút nước sông Hồng pha loãng đối với giai đoạn ô nhiễm ở Hà Nam.

Một đoạn kênh thoát nước ùn ứ đầy rác thải của sông Tô Lịch. Ảnh: VnE.

Giải pháp trên một lần nữa khiến các chuyên gia lo lắng, bởi câu chuyện lấy nước sông Hồng pha loãng xử lý ô nhiễm từng được bàn tới nhiều lần nhưng không nhận được sự đồng thuận của giới chuyên môn.

Ông Nguyễn Xuân Hảo - Phó Giám đốc Sở TN-MT Hà Nam khẳng định ngay, lấy nước sông Hồng pha loãng không xử lý được ô nhiễm cho Hà Nam.

"Bổ cập nước sông Hồng giải quyết ô nhiễm tại Hà Nam chỉ là giải pháp tình thế, không hiệu quả. Bởi, lấy nước sông Hồng pha loãng nước sông Tô Lịch, sông Đáy, sông Nhuệ đoạn Hà Nam nhưng sau đó nước thải sinh hoạt trong dân cư, khu công nghiệp vẫn tiếp tục xả thải chảy ra các sông, rồi nước ô nhiễm lại từ các sông lại chảy ra sông Hồng, sau đó lại lấy nước sông Hồng bơm ngược lại các sông, cứ lòng vòng như vậy chỉ làm nước thải chạy vòng quanh, không giải quyết được ô nhiễm.

Quan trọng nhất là phải kiểm soát được nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư, nhà máy, khu công nghiệp đang thải trực tiếp ra sông.

Và điều đầu tiên là phải kiểm soát triệt để được nước thải từ Hà Nội đổ ra các sông, nếu chưa kiểm soát được tình trạng ô nhiễm ở Hà Nội thì không có giải pháp nào xử lý triệt để được ô nhiễm cho Hà Nam", ông Hảo nói.

Tương tự, GS.TS Trần Hiếu Nhuệ - nguyên Viện trưởng Viện Kỹ thuật Nước và Công nghệ Môi trường cũng cho rằng, muốn xử lý được ô nhiễm của Hà Nam thì phải xử lý được tình trạng ô nhiễm của Hà Nội trước. Để làm được như vậy cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, một giải pháp lấy nước sông Hồng pha loãng xử lý ô nhiễm là không thể.

Như vậy, việc đầu tiên là phải nhìn xem khi nào nhà máy xử lý nước xả thải Yên Xá sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động? Khi đó, có lấy nước từ Yên Xá bơm vào sông Tô Lịch được không?

"Mục tiêu đặt ra là đưa nước thải qua trạm xử lý Yên Xá, sau đó lấy nước thải từ trạm Yên Xá bơm vào Hồ Tây rồi bơm ngược vào các dòng sông, làm loãng nước sông trước khi chảy ngược về trạm xử lý Yên Xá.

Tính toán là như vậy nhưng tới nay trạm xử lý nước xả thải Yên Xá vẫn đang dở dang, chưa hoàn thành, nếu vậy việc lấy nước sông Hồng pha loãng xử lý ô nhiễm cho Hà Nam có hiệu quả không hay "tiền mất tật vẫn mang", việc này phải tính toán cho kỹ", vị chuyên gia nhắc nhở.

Riêng với Hà Nam, vị chuyên gia cho biết sông Châu Giang nối với cống ra sông Hồng, hiện đang bị bít lại từ nhiều năm trước, nếu lấy nước sông Hồng pha loãng xử lý ô nhiễm cho Hà Nam thì phải đồng bộ và rất tốn kém.

"Như vậy, câu chuyện đặt ra ở đây là chúng ta có tiền để làm không?", vị chuyên gia đặt câu hỏi.

Bày tỏ mối lo ngại khác, GS.TS Ngô Đình Tuấn, Hội Môi trường và Tài nguyên nước Việt Nam nhắc lại việc lấy nước sông Hồng pha loãng xử lý ô nhiễm đoạn Hà Nam sẽ có nguy cơ giống như lấy nước sông pha loãng để xử lý sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Đáy, có thể làm ô nhiễm các dòng sông và các tỉnh phụ cận.

GS.TS Ngô Đình Tuấn cho biết, việc lấy nước của một dòng sông pha loãng sự ô nhiễm của dòng sông khác là điều ai cũng có thể nghĩ tới đầu tiên, nhưng sở dĩ không làm là vì có quá nhiều điều lo ngại cho sự ô nhiễm của các vùng phụ cận.

“Việc lấy nước sông Hồng pha loãng nước sông Tô Lịch thoạt nghe có vẻ đơn giản nhưng lại là bài toán rất khó. Bởi phải tính toán xem lấy nguồn nước từ đâu, đưa vào từ vị trí nào và lượng đưa vào là bao nhiêu. Các tính toán phải phù hợp, vừa đủ để không khiến cho dòng chảy bị thay đổi, gây áp lực lên các khu vực khác” – ông Tuấn cho biết.

Cũng theo ông Tuấn, những đề xuất lấy nước sông Hồng để xử lý ô nhiễm các dòng sông ở Hà Nội bị phản ứng là vì nhiều lý do:

Thứ nhất, bản thân nước hồ Tây cũng đang bị ô nhiễm. Khi lấy nước sông Hồng bổ cập cũng chưa thể giải quyết được sự ô nhiễm của nước hồ Tây. Từ đó, một khu vực nước ô nhiễm đổ ra khu vực có sự ô nhiễm lớn hơn chỉ là giải pháp tình thế ban đầu, không đạt được hiệu quả lâu dài.

Thứ hai, khi pha loãng nước sông Tô Lịch sẽ làm lưu lượng nước ở sông Tô Lịch lên cao, đẩy nước về các sông xung quanh như sông Nhuệ, sông Đáy và có khi là chảy ngược ra chính sông Hồng. Khi đó, nước ở các sông này cũng bị ô nhiễm theo.

Như vậy, các vùng như Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình… lại chịu ảnh hưởng nặng nề từ việc pha loãng nước sông Tô Lịch.

Do đó, việc lấy nước sông Hồng pha loãng xử lý ô nhiễm ở Hà Nam cũng phải được nhìn nhận lại, bởi giải pháp này không giúp giải quyết triệt để ô nhiễm cho Hà Nam khi tình trạng ô nhiễm ở Hà Nội chưa được xử lý.

Mặt khác, việc xử lý nước thải lòng vòng như vậy chẳng khác nào đẩy ô nhiễm từ Hà Nam sang các tỉnh khác, chắc chắn các địa phương khác sẽ không muốn như vậy.

Thái Bình/Báo Đất Việt

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Như MT&ĐT đã phản ánh, Ông Hoàng Xuân Đông (sinh năm 1939) là con trai duy nhất trong gia đình có ba người con của ông Hoàng Xuân Năm và bà Đặng Thị Sỹ. Gia đình ông Năm bà Sỹ sinh sống, cư ngụ lâu đời trên một mảnh đất hơn 1.000m2 tại xóm 15 Phong Yên, xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc (Nghệ An).

Cha mất sớm, mẹ già yếu, vợ mới cưới được được ít ngày nhưng khi nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, năm 1962, chàng thanh niên trẻ Hoàng Xuân Đông (lúc này mới 22 tuổi), đã xung phong lên đường đánh Mỹ cứu nước.

Nói về cuộc đời bi thương, đau xót của mình, người cựu chiến binh già nua không cầm được nước mắt. Đơn thư ông gửi các cơ quan chức năng đã dày cả xấp mà chưa được giải quyết.

Do có trình độ hệ 10/10, nên tháng 8/1962, ông được nhập ngũ vào Binh chủng Phòng Không - Không quân quân, học tập và huấn luyện tại sân bay Cát Bi, Hải Phòng rồi chuyển vào sân bay Vinh, Nghệ An; Sao Vàng, Thanh Hóa. Do địch bắn phá ác liệt, đến năm 1965 chuyển sang Phòng không, Không quân của Trung đoàn pháo cao xạ E227F367 làm thợ kỹ thuật đánh bằng khí tài, bảo vệ các trọng điểm Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Bắc, Nam Định…

Tháng 9/1966, vợ ông Hoàng Xuân Đông trên đường đi làm về bị trúng bom Mỹ chết, nhưng do nhiệm vụ, chiến tranh ác liệt, ông không thể về thắp hương, chôn cất người vợ trẻ. Nuốt nỗi đau, nước mắt vào trong, ông vẫn kiên lòng bám mặt trận, chiến đấu, bảo vệ tổ quốc.

Đến tháng 7/1970 ông được điều vào chiến trường B thuộc đoàn 559 sang bảo vệ giao thông ở tỉnh Khăm Muộn, hạ Lào. Năm 1972 ông về bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh. Năm 1974 vào tiếp quản sân bay Nha Trang rồi tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Đến năm 1975, giải phóng miền Nam, non sông thu về một mối, chiến sỹ Hoàng Xuân Đông được phục viên.

Với sự cống hiến xương máu, công lao cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, ông Hoàng Xuân Đông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhì, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng 3, Kỷ niệm chương Chiến sỹ Trường Sơn đường Hồ Chí Minh…

Mảnh đất ở của gia đình ông Hoàng Xuân Đông sinh sống bảo đời đã bị chính quyền xã Nghi Phong cấp cho người khác mà không có bất cứ một thông báo hay quyết định thu hồi, đền bù gì.

Với chiếc ba lô sờn rách và hai bộ đồ cũ kỹ, sau 15 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, ông trở về quê hương thăm gia đình, quê hương. Lúc này nhà chẳng còn ai ngoài mẹ già với túp lều tranh dột nát, xiêu vẹo; vợ chết, hai chị đã đi lấy chồng. Vượt qua nỗi đau, mất mát, cựu chiến binh Hoàng Xuân Đông tiếp tục cuộc sống sản xuất, chăm sóc mẹ già. Tuy nhiên trong những năm tháng tham gia chiến tranh ác liệt ở Hạ Lào, tuyến đường Hồ Chí Minh, ông bị thương nặng và nhiễm chất độc dioxin; bệnh tình luôn tái phát, hành hạ, không thể làm các công việc nặng nhọc. Nghe nhiều người mách bảo trong Tây Nguyên có chữa bệnh cả Đông và Tây y rất hiệu quả, lại với khát vọng lập nghiệp làm lại cuộc đời, ông gửi gắm mẹ già cho hai chị gái, họ tộc rồi lên đường

Nỗi đau mất mát, bệnh tật được vơi đi phần nào khi ông được chữa bệnh và gặp một người con gái đẹp người, tốt tính ở vùng đất nắng gió Chư Sê, Gia Lai. Sau một thời gian tìm hiểu, hai người nên duyên vợ chồng. Tuy nhiên hạnh phúc chưa được bao lâu thì đôi vợ chồng trẻ phải nhiều lần đau đớn chôn cất các đứa con sinh non chết yểu của mình. Đây là hậu quả của những năm tháng ông chiến đấu ở chiến trường B và bị phơi nhiễm chất độc hóa học. Cuộc đời luôn gặp những mất mát, đau thương nhưng ông vẫn gạt nước mắt để tiếp tục sống, vượt lên nghịch cảnh của chính mình. Nhiều năm sau, vợ chồng ông may mắn có thêm 3 người con nữa nhưng cũng bị những di chứng chất độc da cam, không được bình thường, lanh lợi như bao đứa trẻ khác.

Năm 1983 nghe tin mẹ mất, ông khăn gói trở về quê nhà chôn cất mẹ già, ngôi nhà tranh dựng trên mảnh đất bao đời gia đình ông sinh sống bị mưa bão làm hư hại nên ông đành gửi bàn thờ bên họ hàng để thờ cúng. Mặc dù lập nghiệp, vợ con ở Tây Nguyên nhưng là con trai duy nhất của gia đình nên ông dự định sau vài năm có tiền, ông sẽ về quê xây lại căn nhà cũ, để có nơi thờ tự bố mẹ. Hàng năm ông vẫn về quê cùng hai chị gái làm giỗ cha mẹ, thăm nom vườn tược, bốc mộ ông bà; tính ít năm có điều kiện xây cái nhà nho nhỏ có nơi chui ra chui vào, thờ tự gia tiên.

Tuy nhiên thật bất ngờ vào năm 1996, không một thông báo hay quyết định thu hồi đất nào gửi cho ông Hoàng Xuân Đông hay các thành viên trong gia đình ông là hai chị gái ruột lấy chồng, sinh sống tại địa phương, UBND xã Nghi Phong và huyện Nghi Lộc đã ngang nhiên lấy mảnh đất bao đời của gia đình ông cấp cho một người khác. Những năm tiếp theo, ông cứ đi đi, về về giỗ cha mẹ, thắp hương khói nhưng không biết mảnh đất của gia tiên mà ông dự định xây dựng căn nhà thờ tự đã được cán bộ xã, huyện cấp cho người khác.

Sau khi biết chuyện, cựu chiến binh Hoàng Xuân Đông bị sốc, bệnh tình thêm trầm trọng, phải nhập viện hàng tháng trời. Nhưng để lấy lại mảnh đất cha ông, cựu chiến binh đã viết đơn thư “kêu cứu” gửi lên các cấp chính quyền địa phương tỉnh Nghệ An. Dù tuổi già sức yếu, bệnh tật hành hạ nhưng nhiều năm qua, đã hàng chục lần ông bắt xe đò ra vào Tây Nguyên- Nghệ An, hàng ngàn lá đơn gửi đi khắp nơi nhưng vẫn “bặt vô âm tín” khiến ông hết sức bức xúc, đau đớn.“Chiến tranh xảy ra, tôi đã xung phong đi đánh Mỹ cứu nước, cống hiến xương máu, tuổi trẻ để bảo vệ thành quả cách mạng. Nhưng khi hòa bình lập lại, các thế hệ con cháu làm cán bộ cấp xã, huyện Nghi Lộc lại đối xử thô bạo, thiếu tình người, đạo lý với một bộ đội cụ Hồ như tôi. Tại sao đất hương hỏa bao đời của gia đình tôi để lại mà họ có thể ngang nhiên lấy cấp cho người khác?” – ông Hoàng Xuân Đông bức xúc, không cầm được nước mắt cho biết.

Ngày 11/10/2020 Môi trường và Đô thị có bài viết: “Nghệ An: Cựu chiến binh 25 năm cõng đơn đi đòi lại đất gia tiên”. Sau khi có bài báo, UBND Nghi Lộc đã rất tiếp thu, nhanh chóng ra Quyết định Thành lập Đoàn thanh tra để kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại của ông Hoàng Xuân Đông cũng như bài báo phản ánh.

Quyết định thành lập Đoàn thanh tra của UBND huyện Nghi Lộc sau bài báo của Môi trường và Đô thị cũng như đơn thư “kêu cứu” của ông Hoàng Xuân Đông.

Theo Quyết định 2615/QĐ.UBND ngày 12/10/2020 thì bà Trương Thị Thanh Huyền – Chánh thanh tra huyện làm trưởng đoàn, các ông Nguyễn Quốc Hùng – TTV thanh tra huyện, ông Nguyễn Phú Đồng CV phòng TNMT làm thành viên.

Ngày 28/10/2020 tại UBND xã Nghi Phong với sự có mặt của Đoàn thanh tra và đại diện UBND xã, ông Hoàng Xuân Đông, trưởng đoàn thanh tra đã công bố Quyết định số 2615.

Buổi làm việc cũng ghi nhận tâm tư, nguyện vọng của cựu chiến binh Hoàng Xuân Đông; giải trình, báo cáo của các bên liên quan. Trong buổi làm việc Đoàn đã cùng các bên đến thực địa khu đất của gia đình ông Đông, ghi nhận vị trí, hiện trạng, nguồn gốc…để có hướng giải quyết thấu tình, đạt lý; không để kiện cáo, tranh chấp kéo dài, đặc biệt là đảm bảo quyền lợi cho người có công với cách mạng.

Let's block ads! (Why?)

Read more
Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020
no image

Chính phủ sẽ đánh giá nghiêm túc nguyên nhân khách quan và chủ quan về thiên tai, lũ lụt vừa qua, kể cả xem xét tình hình quy hoạch, quản lý rừng và hồ đập thủy điện để có các biện pháp chấn chỉnh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh và đề xuất sáng kiến trồng 1 tỷ cây xanh trong 5 năm tới.

Phát biểu tại phiên giải trình và trả lời chất vấn, sáng 10/11, Thủ tướng nêu rõ thời gian gần đây, hiện tượng thiên tai, biến đổi khí hậu và thời tiết diễn ra ngày càng khốc liệt hơn, với tần suất dày hơn. Ngoài những thiệt hại về vật chất, chúng ta đau buồn khi thiên tai, bão lũ, các vụ sạt lở đất đã cướp đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội. Chúng ta vô cùng bàng hoàng khi có nhiều thi thể trẻ em được tìm thấy tại hiện trường các vụ sạt lở núi kinh hoàng xảy ra gần đây, như vụ sạt lở xảy ra tại xã Phước Lộc (Phước Sơn, Quảng Nam) có đến đến 6 thi thể trẻ nhỏ từ 4 đến 9 tuổi. Các cháu vẫn còn chưa được học hết bài học trên lớp, chưa đọc hết mẩu chuyện, chưa chơi xong trò chơi của các cháu, và còn nhiều ước mơ chưa thực hiện được.

Bão lũ và sạt lở đất ở miền Trung gần đây hay vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên do biến đổi khí hậu cực đoan, do địa hình dốc đứng, do sự tác động của con người, trong đó có thủy điện nhỏ, công trình hạ tầng… và điều này đã tạo ra nhiều tranh luận, song dù bất luận là nguyên nhân trực tiếp là gì thì chúng ta vẫn phải tiếp tục bảo vệ rừng, nhất là rừng tự nhiên, một cách nghiêm ngặt.

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet

“Ngay từ đầu nhiệm kỳ, tôi đã yêu cầu đóng cửa rừng tự nhiên và chúng ta cần tiếp tục nhất quán với quan điểm đó. Độ che phủ rừng hiện nay của chúng ta đã tăng trở lại, song so với nhiều nước thì vẫn còn thấp. Do đó, chúng ta phải tiếp tục trồng cây gây rừng, làm cho Tết Trồng cây trở thành một hoạt động thực chất hơn nữa theo lời dạy của Bác Hồ. Hướng đến lời dạy đó, tôi đề xuất sáng kiến trồng 1 tỷ cây xanh trong 5 năm tới, trong đó có các khu đô thị”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Thủ tướng cũng nêu rõ, trong khi bệnh dịch còn rình rập, tình trạng “bão chồng bão”, “lũ chồng lũ” xảy ra liên tiếp tại các tỉnh Miền Trung gây thiệt hại rất nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của hàng triệu người dân. Chúng ta đã nhận được ý kiến của nhiều người dân về những cố gắng vượt bực của các cấp, các ngành, đặc biệt là các địa phương và lực lượng quân đội đã tập trung toàn lực, thực hiện quyết liệt, kịp thời các biện pháp “4 tại chỗ” phòng chống, cứu hộ, cứu nạn. Ban chỉ đạo tiền phương, các đồng chí Bí thư, Chủ tịch, lãnh đạo các địa phương đã ngày đêm trực, chỉ đạo trực tiếp tại hiện trường, khắc phục hậu quả thiệt hại.

Hàng chục nghìn cán bộ, chiến sỹ quân đội, công an không quản ngại hiểm nguy, gian khó, ngày đêm vật lộn với bão lũ để hỗ trợ đồng bào, cứu hộ người dân bị nạn. Nhiều tấm gương cán bộ, chiến sỹ, trong đó có những sỹ quan cao cấp đã hy sinh quên mình; nhiều tổ chức, cá nhân đã có những nghĩa cử cao đẹp hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân vùng bị ngập lụt.

Một lần nữa chúng ta càng thấy ngời sáng tình đồng bào – đồng chí – đồng đội nghĩa tình, thắm thiết, nhân văn, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, của truyền thống văn hóa Việt Nam. Chính phủ đã chỉ đạo các cấp các ngành khẩn trương hỗ trợ người dân dựng lại và sửa chữa nhà cửa bị hư hại; bảo đảm lương thực, thực phẩm, thuốc men; khắc phục nhanh các công trình hạ tầng, trường học, bệnh viện bị sự cố hư hỏng, ngập lụt; sớm phục hồi các hoạt động kinh tế, xã hội, ổn định cuộc sống người dân vùng bị ảnh hưởng.

Thủ tướng nhấn mạnh, Chính phủ sẽ đánh giá nghiêm túc nguyên nhân khách quan và chủ quan về thiên tai, lũ lụt vừa qua, kể cả xem xét tình hình quy hoạch, quản lý rừng và hồ đập thủy điện để có các biện pháp chấn chỉnh. Đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm phá rừng, nâng cao chất lượng rừng, vận hành hiệu quả hồ chứa, liên hồ chứa, bảo đảm an toàn cho sản xuất và cuộc sống của người dân.

Đồng thời, triển khai các giải pháp căn bản, lâu dài trước tình hình thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng; trong đó tập trung xây dựng các phương án ứng phó hiệu quả; nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo; lập bản đồ cảnh báo nguy cơ sạt lở đất, lũ quét, ngập lụt, quy hoạch bố trí dân cư phù hợp hơn; kiện toàn bộ máy phòng chống thiên tai, trang bị thêm các phương tiện, thiết bị cần thiết; Lựa chọn một số dự án ưu tiên đầu tư để nâng cao năng lực chủ động phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Sẽ ban hành chiến lược ứng phó thiên tai vào cuối năm nay.

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là gần 2,2 triệu ha, còn lại là rừng trồng. Tỷ lệ che phủ rừng toàn khu vực Tây Nguyên đạt 45,92%. Tuy nhiên, mỗi năm, rừng Tây Nguyên đều phải đối mặt với rất nhiều các vụ vi phạm lâm nghiệp. Đáng chú ý, diện tích rừng tự nhiên của Tây Nguyên năm 2019 giảm đến gần 16.000 ha so với năm 2018. Trong đó, Đắk Lắk là tỉnh có diện tích rừng giảm nhiều nhất, khoảng hơn 11.000 ha.

Trong Quyết định số 297/QĐ-TTg ngày 18/03/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016 - 2030 cũng nêu rõ: Xử lý dứt điểm đối với 282.896 ha rừng và đất lâm nghiệp đang có chồng lấn, tranh chấp, lấn chiếm; không để phát sinh tranh chấp, xâm lấn rừng.

Điều này cho thấy, thực trạng mất rừng đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có trách nhiệm quản lý của đơn vị chủ rừng. Chỉ tính riêng tại tỉnh Gia Lai, qua thanh tra tại 21 ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn, đã có 8 hồ sơ chuyển sang Cơ quan điều tra Công an tỉnh.

Dưới đây là những hình ảnh mà PV Môi trường và Đô thị điện tử ghi nhận được từ 2018 đến nay:

Ngoài sự phá rừng "chính quy", còn có sự phá rừng nhỏ lẻ và khai thác gỗ trái phép của nhiều cá nhân, tổ chức

Các dự án sản xuất nông nghiệp, thủy điện, hồ thủy lợi đã lấy đi của Tây Nguyên hàng ngàn ha rừng trong nhiều năm qua

Chỉ tính riêng các vụ vi phạm lâm luật đã có hàng trăm ha rừng bị tàn phá mỗi năm

Công tác quản lý bảo vệ rừng cũng còn nhiều bất cập, bằng hình thức này hay hình thức khác, các cán bộ đang coi rừng như mảnh đất màu mỡ để phát triển kinh tế cá nhân

Dự án chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất đã phá đi của Kon Plong hàng trăm ha rừng, nhưng cuộc sống của người dân vẫn chưa có sự thay đổi vượt bậc

Dưới mọi hình thức, rừng Tây Nguyên đang bị tàn phá hàng ngày

Lối canh tác thuận theo tự nhiên cũng đang là một phần nguyên nhân gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng

Rừng Kon Plong những năm 2018, rừng ngã xuống cho những dự án phát triển kinh tế

Rừng Tây Nguyên đang một ngày thưa dần

Thói quen dùng gỗ của người dân cũng góp phần kích cầu cho nạn phá rừng lấy gỗ, làm giảm diện tích rừng đáng kể

Một người dân xót rừng đã bỏ công mỗi ngày ghi lại hàng chục chuyến xe độ chế chở lâm sản về qua nhà

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Một trong những hành động cụ thể hóa cam kết này là sự ra đời của Quỹ “Việt Nam xanh” với sứ mạng xây dựng hình ảnh nhân văn của ngành chế biến gỗ, gắn sự phát triển của ngành với lợi ích và phát triển của cộng đồng.

Trữ lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong nước hằng năm ước đạt trên 35 triệu m3. Nhu cầu nguyên liệu đã thúc đẩy diện tích rừng trồng tăng giúp cho độ che phủ rừng tăng theo, hoàn thiện chuỗi cung ngành lâm nghiệp, tạo ra công ăn việc làm thay đổi đời sống các hộ trồng rừng, tác động tích cực đến môi trường và xã hội. Việc sử dụng nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng cũng phù hợp với nhu cầu và xu hướng tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam: Mỹ, châu Âu, Nhật Bản,… Đây hầu hết là các thị trường có quy định ngặt nghèo về nguồn gốc gỗ, tính hợp pháp của gỗ. Người tiêu dùng tại các thị trường này không chấp nhận các sản phẩm gỗ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, đặc biệt là các loài gỗ nhiệt đới, gỗ quý. Các doanh nghiệp ngành gỗ Việt Nam nhận thức được rõ các quy định cũng như thị hiếu tiêu dùng tại các thị trường này, và đã chấp hành nghiêm túc các quy định và yêu cầu này.

Bên cạnh đó, ngành gỗ Việt Nam cũng sử dụng nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ Mỹ, châu Âu, Australia, Canada, NewZeland… Đây hầu hết là các nước có nền lâm nghiệp phát triển, rừng được trồng, quản lý và khai thác bền vững.

Từ thực tế trên cho thấy cách nghĩ sự phát triển của ngành gỗ gắn liền với thiên tai, mất rừng, phá hủy nguồn đa dạng sinh học… cần phải được thay đổi.

Ngày 9/11, tại chương trình gặp gỡ “Ngành gỗ vì một Việt Nam xanh”, đại diện các hiệp hội gỗ trong cả nước (Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA), Hiệp hội Gỗ và Thủ công mỹ nghệ Đồng Nai (DOWA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA BINH DINH), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Thanh Hóa (THVIFORES), Chi hội Gỗ dán, Chi hội Dăm gỗ) đã cùng ký cam kết thúc đẩy phát triển ngành gỗ Việt Nam theo hướng có trách nhiệm và bền vững trong tương lai. Các cam kết thể hiện trách nhiệm với sự phát triển của ngành và với cộng đồng bao gồm:

Tuân thủ nghiêm pháp luật của Nhà nước để đảm bảo toàn bộ hoạt động trong các khâu nhập khẩu, xuất khẩu, khai thác, vận chuyển, mua bán, chế biến gỗ là hợp pháp. Các hiệp hội ủng hộ Chính phủ Việt Nam trong việc tăng cường kiểm tra, giám sát nguồn gỗ nhập khẩu, đặc biệt là gỗ nhiệt đới từ các nước lân cận và từ châu Phi, được nhập khẩu vào Việt Nam từ các khu vực địa lý rủi ro và loài rủi ro, bao gồm cả các loài nằm trong danh mục CITES.

Yêu cầu tất cả các thành viên của các hiệp hội tuân thủ nghiêm ngặt tinh thần của Nghị định VNTLAS; tuyệt đối không sử dụng gỗ nhiệt đới, đặc biệt từ nguồn châu Phi, Lào và Campuchia để làm các sản phẩm xuất khẩu. Các hiệp hội kêu gọi các doanh nghiệp thành viên sử dụng gỗ rừng trồng trong nước, sản phẩm làm từ gỗ rừng trồng, và gỗ nhập khẩu từ vùng địa lý tích cực và loài không rủi ro.

Thúc đẩy phát triển thị trường nội địa theo hướng sử dụng gỗ có trách nhiệm, minh bạch thông tin chuỗi cung, chuyển đổi nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào là gỗ nhiệt đới nhập khẩu sang gỗ rừng trồng.

Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng nhằm phát hiện, ngăn chặn và loại bỏ các hành vi gian lận thương mại và đầu tư trong ngành.

Để triển khai các nội dung trong Cam kết này, mỗi hiệp hội sẽ tiến hành xây dựng Chương trình hành động, theo lộ trình và bố trí đủ nguồn lực để thực hiện hiệu quả.

Cũng tại buổi gặp gỡ, các doanh nghiệp cũng có ý tưởng cùng nhau xây dựng quỹ “Việt Nam xanh”. Mục tiêu của Quỹ là thay đổi nhận thức xã hội về ngành theo hướng bền vững về xã hội, môi trường và kinh tế. Quỹ sẽ xác định các mảng hoạt động chiến lược trực tiếp góp phần làm thay đổi hình ảnh của ngành. Tài chính từ Quỹ sẽ được sử dụng để tài trợ kinh phí để thực hiện các hoạt động mang tính chất chiến lược này. Nguồn kinh phí của Quỹ Việt Nam xanh được vận động từ đóng góp trực tiếp của các doanh nghiệp trong ngành gỗ, và từ các nguồn tài trợ khác.

Các mảng hoạt động ưu tiên của Quỹ bao gồm các dự án trồng rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng nguồn tài nguyên sinh học. Thông qua đó, Quỹ sẽ hỗ trợ các hoạt động phát triển sinh kế cho các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia bảo vệ rừng.

Quỹ “Việt Nam xanh” sẽ thúc đẩy các kết nối giữa các hộ sản xuất đồ gỗ tại các làng nghề gỗ và các doanh nghiệp trong ngành, mở rộng thị trường, thúc đẩy việc chuyển đổi các loại gỗ nguyên liệu từ các loại gỗ quý nhập khẩu sang các loại gỗ rừng trồng, sản phẩm gỗ rừng trồng và gỗ nhập khẩu từ các nguồn rủi ro thấp. Thông qua đó truyền thông để thay đổi nhận thức và thói quen của cộng đồng về sử dụng gỗ hợp pháp và bền vững.

Quỹ sẽ ra mắt chính thức vào ngày 1/12/2020 trong sự kiện Lễ kỷ niệm 75 thành lập ngành Lâm nghiệp được tổ chức tại Nghệ An. Tại sự kiện ra mắt, Quỹ sẽ giới thiệu dự án trồng rừng đồng hành cùng Dự án “Rừng Việt Nam” thực hiện.

Theo Đỗ Hương/VGP

Let's block ads! (Why?)

Read more
Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020
no image

Để có những quản lý liên quan đến vùng bờ, Bộ trưởng Trần Hồng Hà đề nghị các địa phương có biển cần thực hiện nghiêm túc Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã ban hành, trong đó, có Điều 79 và Chỉ thị số 20 của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/2015.

Trả lời chất vấn đại biểu Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) về việc cá nhân tổ chức chiếm dụng các bãi biển đẹp, sử dụng và chuyển nhượng bất hợp pháp, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, thực hiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, hiện, Chính phủ đã ban hành rất nhiều văn bản, trong đó, đặc biệt là Nghị định số 51, quy định Điều 79 của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đã quy định về hành lang bảo vệ bờ biển.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội

Đến nay, chúng ta đã công bố được đường triều kiệt trung bình nhiều năm để làm cơ sở cho việc bảo vệ hành lang biển. Như vậy, cơ sở quan trọng là hành lang bảo vệ bờ biển, để xác định ranh giới từ mức nước triều kiệt cũng như lúc triều cao nhất và từ khoảng cách 100m, nơi bảo vệ hành lang, đây là cơ sở pháp lý cao nhất mà hiện nay các địa phương có thể nói là triển khai.

Theo báo cáo hiện nay, cả nước đã có 10 tỉnh phê duyệt hành lang bảo vệ vùng bờ, có 6 tỉnh đang thực hiện, có 12 tỉnh hiện nay đã trình lên Trung ương để lấy ý kiến. Tuy nhiên, Bộ trưởng cho rằng, việc triển khai hiện nay mới được có 10/28 địa phương lập hành lang bảo vệ vùng bờ như vậy còn quá chậm.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà đề nghị các địa phương cần phải thực hiện 2 văn bản quan trọng là Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã ban hành, trong đó có Điều 79.

Đồng thời, phải thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 20 của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/2015. Trong đó, cũng đã chỉ ra chúng ta cần phải có những quản lý liên quan đến vùng bờ.

Hiện, Bộ TN&MT đang xây dựng Nghị định về lấn biển để đưa hoạt động này vào quản lý một cách hiệu quả theo đúng quy định pháp luật.

Theo Khương Trung/Báo TNMT

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Theo hồ sơ PV có được, 3 thửa đất số 1060, 1061,1062 tờ bản đồ số 39 xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (gọi tắt là 3 thửa đất) được gia đình bà Huỳnh Thị Lệ Thu và ông Ngô Văn Lộc (đã mất) cùng ngụ tại huyện Trảng Bom sử dụng ổn định từ năm 1986 đến nay.

Với 3 thửa đất này, gia đình bà Lệ Thu đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ kê khai, đóng thuế nên đến năm 2003, gia đình bà đã được UBND huyện Trảng Bom cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho 3 thửa đất trên và được cấp lại GCN QSDĐ vào năm 2011 với nguồn gốc đất là do Nhà nước giao trồng rừng vào năm 1986.

Vị trí đất xảy ra tranh chấp

Tuy nhiên, phần đất của gia đình ông Lộc bà Lệ Thu được giao, kê khai, cấp sổ và trực tiếp sử dụng suốt 34 năm qua nhưng vẫn bị khởi kiện yêu cầu trả lại cho người khác. Cụ thể, năm 2015 gia đình bà Lệ Thu bị bà Nguyễn Ngọc Thu (ngụ huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) khởi kiện với yêu cầu buộc gia đình bà Lệ Thu trả lại cho bà Ngọc Thu 3 thửa đất nêu trên.

Nguyên nhân được bà Ngọc Thu đưa ra, phần đất đó là của bố mẹ chồng bà Ngọc Thu khai hoang từ năm 1977, đến năm 1982 thì cho vợ chồng bà. Bà Ngọc Thu canh tác sử dụng đến năm 1985 thì bị gia đình bà Lệ Thu chiếm đất cho đến tận bây giờ. Lý do là thế, nhưng bà Ngọc Thu lại không hề cung cấp được bất kỳ tài liệu chứng cứ nào khẳng định được việc bố mẹ chồng bà Ngọc Thu được công nhận là đã khai hoang từ năm 1977 và công nhận việc gia đình bà Ngọc Thu sử dụng từ năm 1982 đến năm 1985 trên 3 thửa đất.

Tuy nhiên, căn cư theo quy định thời điểm đó thì lời khai của phía bà Ngọc Thu về nguồn gốc đất thửa đất số 1060, 1061, 1062 đang tranh chấp với gia đình bà Lệ Thu có nhiều điểm không có tính xác thực, không có cơ sở pháp lý để chấp nhận.

Bởi lẽ, Theo Quyết định 272-CP ngày 03 Tháng 10 năm 1977 của Hội đồng đồng chính phủ quy định “Đất đồi núi, rừng và đất đai chưa khai phá đều thuộc quốc gia công thổ, không ai được chiếm làm của riêng…” và Mục 1, Phần I Thông tư số 20-TT/LB ngày 11 tháng 05 năm 1978 của Bộ nông nghiệp – Bộ lâm nghiệp quy định: “Đất và rừng trên lãnh thổ cả nước đều là tài sản chung của toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, không một đơn vị hoặc cá nhân nào được chiếm làm của riêng. Chỉ Nhà nước mới có thẩm quyền giao đất, giao rừng cho các đơn vị quốc doanh và các hợp tác xã quản lý, sử dụng theo đúng quy hoạch, kế hoạch, quy trình kỹ thuật và chấp hành đúng chính sách, luật lệ của Nhà nước”.

Như vậy, có thể thấy pháp luật thời điểm này quy định rõ đất hoang, đất rừng là công sản quốc gia, không cho phép cá nhân tự khai phá, khai hoang đất để sử dụng vào bất cứ mục đích gì. Cá nhân, hộ gia đình chỉ được quyền khai thác, sử dụng đất khi được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định.

Đối với các chứng từ nộp thuế các năm 1983, 1984, 1985 do bà Ngọc Thu cung cấp để chứng minh việc nộp thuế sử dụng đất thì phía Chi cục thuế khu vực Thống Nhất – Trảng Bom tỉnh Đồng Nai đã có ý kiến nêu rõ: “Trong sổ bộ thuế nhà đất không có thông tin về số thửa, do đó Chi cục thuế không xác định được số thửa đất đóng thuế.” Như vậy có thể hiểu căn cứ vào các biên lai thuế bà phía bà Ngọc Thu cung cấp thì không thể xác định được là đã được đóng thuế cho các phần đất tranh chấp nêu trên.

Về việc giao đất của gia đình bà Lệ Thu, theo bản án sơ thẩm của vụ án thì phía TAND huyện Trảng Bom cũng đã có nhận định rõ: Chính phía bà Ngọc Thu đã nhiều lần và tại phiên Tòa Trảng Bom thừa nhận rằng “danh sách 8 hộ dân được giao đất rừng từ tháng 7/1986 là danh sách có thật, công nhận hộ bà Lệ Thu có trong danh sách, danh sách này là đúng”, UBND xã lấy đất của bà Ngọc Thu nhưng lại không hoán đổi hoặc giao đất khác cho bà.

Theo đó, có thể hiểu là do quyền lợi của bà Ngọc Thu chưa được giải quyết nên bà yêu cầu gia đình bà Lệ Thu trả lại đất.

Như vậy, bà Ngọc Thu đã thừa nhận gia đình bà Lệ Thu không tự chiếm đất mà là được giao đất trồng rừng theo chủ trương của chính quyền từ năm 1986. Còn việc bà Ngọc Thu được đề nghị nhận đất hoán đổi 2 lần ở 2 địa điểm khác nhau nhưng bà không nhận vì lý do đất xấu thì đây không phải là lỗi của gia đình bà Lệ Thu.

Về việc bà Ngọc Thu cho rằng UBND huyện Trảng Bom cấp GCN QSDĐ cho gia đình bà Lệ Thu khi đất đang còn tranh chấp thì theo Tòa Trảng Bom, việc này đã được UBND huyện Trảng Bom giải quyết theo quy định pháp luật.

Các biên lai đóng thuế do bà Ngọc Thu cung cấp không đủ căn cứ để thể hiện chủ quyền đối với phần đất tranh chấp

Cụ thể, qua xem xét chứng cứ của UBND huyện Trảng Bom giải quyết khiếu nại của bà Ngọc Thu (vào năm 2007) cho thấy, kết quả giải quyết của UBND huyện Trảng Bom cũng đã thể hiện bằng văn bản rõ ràng cụ thể như: Kết luận điều tra, thông báo kết quả, công văn trả lời đơn … (theo quy định không cần ban hành hình thức 1 quyết định). Các kết quả này có giao cho bà Ngọc Thu nhưng bà Ngọc Thu không khiếu nại lên cấp trên theo thủ tục hành chính, do đó kết quả giải quyết UBND huyện Trảng Bom đối với bà Ngọc Thu đã có hiệu lực pháp luật, Tòa Trảng Bom không có quyền giải quyết lại.

Từ những luận cứ trong suốt quá trình tố tụng, việc Toà án nhân dân Cấp cao tuyên bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Thu, chấp thuận kháng án của bà Huỳnh Thị Lệ Thu cùng các thừa kế của ông Ngô Văn Lộc, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho gia đình ông Lộc thiết nghĩ cũng là điều ngay tình.

Bởi các lẽ trên, có thể nhận thấy việc gia đình bà Lệ Thu sử dụng đất ổn định ngay tình được các cấp chính quyền công nhận và cấp quyền sử dụng đất theo quy định đã rất rõ ràng.

Hiện vụ án đang thực hiện các thủ tục xét xử phúc thẩm theo quy định, cùng với đó dư luận cũng đang mong chờ một bản án công tâm đúng quy định pháp luật đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người dân.

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

“Người trong gia đình” một lãnh đạo UBND quận Lê Chân, TP Hải Phòng bị phản ánh được ưu ái “hô biến” thửa đất nông nghiệp thành đất thổ cư, để hưởng lợi tiền tỷ khi thu hồi đất làm dự án Hoàng Huy Commerce.

Bản đồ năm 1995 thể hiện thửa đất 328, 329 và 305 là đất nông nghiệp

Vừa qua, Toà soạn Môi trường và Đô thị điện tử nhận được thông tin phản ánh về dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ địa chính, để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) cho người nhà lãnh đạo UBND quận Lê Chân, TP Hải Phòng, để trục lợi hàng tỷ đồng tiền bồi thường, GPMB tại dự án Hoàng Huy Commerce.

Đến khi thu hồi làm dự án Hoàng Huy Commerce, bỗng dưng lô đất 18A nằm trên một phần diện tích thửa 328, 329 và 305 được “hô biến” thành đấy ở đô thị, qua đó bà Hương hưởng lợi tiền đền bù số tiền hàng tỷ đồng?

Theo nội dung phản ánh, ngày 14/7/2017, UBND quận Lê Chân ký Quyết định cấp GCN QSDĐ số CI 136806; thửa đất 18A; tờ bản đồ 34 có diện tích 45,5m2, ở tổ 31, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân cho bà Nguyễn Thị Thu Hương (trú tại 183 Lán Bè, phường Lam Sơn, quận Lê Chân). Loại đất được chứng nhận trong GCN QSDĐ là: Đất ở đô thị.

Năm 2019, để triển khai thực hiện dự án Hoàng Huy Commerce, quận Lê Chân thực hiện công tác thu hồi đất, đền bù, GPMB đối với các hộ dân có đất bị thu hồi. Do đó, toàn bộ thửa đất nêu trên của bà Nguyễn Thị Thu Hương bi thu hồi và được bồi thường, hỗ trợ khoảng 2,1 tỷ đồng, gồm: bồi thường về đất hơn 1,7 tỉ đồng; bồi thường, hỗ trợ tài sản và vật kiến trúc trên đất gần 400 triệu đồng.

Căn cứ vào các tài liệu phóng viên thu thập được, thửa đất số 18A trong GCN QSDĐ số CI 136806 cấp cho bà Hương chính là một phần thửa đất số 6 và số 5, tờ bản đồ số 34 năm 2005; đồng thời là một phần thửa đất 329, 328 và 305, tờ bản đồ số 9 năm 1995.

Theo thông tin tại tờ bản đồ 34 năm 2005 và tờ bản đồ số 9 năm 2015 thể hiện, vị trí thửa đất số 18A trên là đất nông nghiệp. Bởi vậy, không biết từ bao giờ, và bằng cách nào đó thửa đất số 18A này lại được UBND quận Lê Chân “hô biến” thành đất ở đô thị để cấp GCN QSDĐ cho bà Hương (?!).

GCN QSDĐ mà UBND quận Lê Chân cấp cho hộ bà Hương có dấu hiệu sai lệch hồ sơ địa chính khi xác định loại đất

Trao đổi với PV Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử, một người dân đã sinh sông tại đây hơn 30 năm, khẳng định: “Vị trí thửa đất số 18A là đất nông nghiệp của địa phương. Việc họ (UBND quận Lê Chân – PV) lập hồ sơ cấp rồi sổ đỏ thành đất ở đô thị là điều hết sức bất thường. Việc làm này biểu hiện rõ dấu hiệu lợi dụng thu hồi đất, đền bù GPMB thi công dự án Hoàng Huy Commerce để trục lợi, bởi đơn giá đền bù đất thổ cư lớn hơn gấp nhiều lần so với đất nông nghiệp”

Cũng theo người này: “Việc hộ bà Nguyễn Thị Thu Hương được “tạo kiều kiện” cấp GCN QSDĐ như thế là điều có thể xảy ra và người dân địa phương không quá bất ngờ, bởi bà Hương là người nhà của một lãnh đạo UBND quận Lê Chân”

Cụ thể, theo tìm hiểu của chúng tôi chủ sở hữu thửa đất 18A được cấp GCNQSDĐ số CI 136806 là bà Nguyễn Thị Thu Hương (trú tại 183 Lán Bè, phường Lam Sơn, TP Hải Phòng). Bà Hương là em gái ruột ông Nguyễn Xuân Ngọc, hiện đang giữ chức Phó Chủ tịch UBND quận Lê Chân, TP Hải Phòng. Được biết, tại thời điểm UBND quận Lê Chân cấp GCN QSDĐ cho bà Hương, ông Nguyễn Xuân Ngọc là Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh quận Lê Chân.

Phân tích về sự việc trên, Luật sư Nguyễn Trường Giang, Đoàn Luật sư TP Hà Nội nói: “Nếu việc cấp GCN QSDĐ là đất ở đô thị cho đất nông nghiệp, nhưng không làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng và đóng thuế chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất ở đô thị, là có dấu hiệu của hành vi cố ý làm trái các quy định của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng”.

Cũng theo Luật sư Giang, để làm sáng tỏ sự việc, tránh hoài nghi trong dư luận. Đặc biệt, tránh “mang tiếng” cho lãnh đạo UBND quận Lê Chân, mà cụ thể là Phó Chủ tịch quận Nguyễn Xuân Ngọc thì việc cần làm ngay là: “Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng cần vào cuộc điều tra, xác minh làm rõ quy trình, thủ tục cấp GCN QSDĐ cho bà Hương, qua đó quy trách nhiệm cho những tập thể, cá nhân liên quan đến sai phạm (nếu có). Nếu việc cấp GCN QSDĐ có sự “ưu ái” cho người nhà lãnh đạo như phản ánh, thì phải thu hồi tài sản, tiền hỗ trợ, bồi thường đối với thửa đất trên về cho Nhà nước”.

Ở một diễn biến liên quan, khi trả lời báo chí về sự việc trên, ông Phó Chủ tịch quận Lê Chân Nguyễn Xuân Ngọc cho biết: “Hiện nay Quận đang giao các phòng, ban làm rõ và cơ quan điều tra tiến hành (xác minh, điều tra – PV). Khi nào có kết quả Quận sẽ thông báo cụ thể”.

Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử sẽ theo dõi, cập nhật kết quả xác minh vụ việc để thông tin tới bạn đọc.

Let's block ads! (Why?)

Read more
Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2020
no image

Sự việc khiến cho tài nguyên bị “chảy máu”, gây thất thu ngân sách nhà nước.

Theo tài liệu mà PV Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử thu thập được thể hiện: Công ty sản xuất VLXD Quyết Tiến (Công ty Quyết Tiến) được UBND tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 04121000277, thay đổi lần thứ nhất vào ngày 23/1/2013. Đến ngày 23/5/2013, UBND tỉnh Hải Dương cấp giấy phép số 1045/GP-UBND về việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản cho Công ty Quyết Tiến.

Theo nội dung giấy phép, cho phép Công ty Quyết Tiến khai thác đất đồi bằng phương pháp lộ thiên tại mỏ đất đồi núi Bu Lu, thuộc xã Bạch Đằng và xã Lê Ninh, huyện Kinh Môn (nay là thị xã Kinh Môn), Hải Dương. Diện tích khai thác là 20,0ha; trữ lượng khai thác 3.519.582,7 m3; công suất khai thác từ 400.000 – 500.000 m3/năm; Thời hạn khai thác là 8 năm.

Qua kiểm tra, thấy Công ty Quyết Tiến đã hết thời hạn hoạt động khai thác đất trên địa bàn. Ngày 13/10/2020, UBND xã Lê Ninh ban hành Công văn số 43/CV-UBND về việc cung cấp tài liệu, hồ sơ cấp phép khai thác đất đồi núi Bu Lu đảm bảo theo quy định; sớm có biện pháp khắc phục về khai thác đất ảnh hưởng tới việc thoát nước, nhất là trong thời điểm hiện nay đang là mùa mưa lũ, đồng thời có biện pháp giảm bụi tiếng ồn trong quá trình hoạt động, đảm bảo đời sống sinh hoạt cho người dân.

Quá trình xác minh sự việc, PV Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử đã có cuộc trao đổi với ông Trần Trung Kiên, Chủ tịch UBND xã Lê Ninh về vấn đề trên. Ông Kiên cho biết: “Xã đã đề nghị Công ty Quyết Tiến phải cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến cấp phép khai thác đất đồi núi Bu Lu trước ngày 21/10/2020. Tuy nhiên đến nay (3/11) công ty vẫn chưa thực hiện các nội dung đề nghị của xã (?)”

Tuyến đường dân sinh của người dân xã Bạch Đằng, xã Lê Ninh bị cày nát bởi “binh đoàn” xe tải có dấu hiệu quá tải quá khổ chở đất của Công ty Quyết Tiến, nhưng không thấy lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý

Thực tế, thời điểm hiện tại Công ty Quyết Tiến vẫn đang tích cực khai tác, vận chuyển đất đi tiêu thụ khắp nơi, với số lượng rất lớn. Việc này có dấu hiệu khai thác đất trái phép ngay “giữa thanh thiên bạch nhật”, mà không bị lực lượng chức năng kiểm tra, ngăn chặn. Điều này khiến dư luận băn khoăn đặt nghi vấn, liệu có thế lực nào đó “bảo kê” cho Công ty Quyết Tiến đánh cắp tài nguyên quốc gia?

Sự việc không chỉ dừng lại ở những vấn đề trên, tình trạng hoạt động khai thác đất của Công ty Quyết Tiến đã và đang bị người dân địa phương bức xúc, phản ứng dữ dội. Bởi lẽ, kể từ khi công ty huy động thiết bị, máy móc vào khai thác đất đã khiến môi trường sống trong khu vực bị ô nhiễm nặng nề, con đường dân sinh của người dân bị cày nát…

Để làm rõ sự việc, PV Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử đã “mục sở thị” khu vực khai thác đất của Công ty Quyết Tiến. Hình ảnh trước mắt chúng tôi là hàng loạt xe tải trọng lớn, có dấu hiệu cơi nới thành thùng, chúng được chất đầy đất để chở đi tiêu thụ. Cả một tuyến đường dài hàng km đã bị “băm nát” thành những “ổ voi”, vũng sâu khiến việc di chuyển của người và phương tiện tham gia giao thông qua đây vô cùng khó khăn.

Chị Nguyễn Thị M. sống dưới chân núi Bu Lu, bức xúc cho biết: “Vào thời tiết nắng thì bụi bay mù mịt, không một nhà nào dám mở cửa, mỗi khi trời mưa thì tuyến đường bị ngập nước sâu, trơn trượt nên người dân không thể di chuyển qua đây. Tuyến đường này gần như bị tê liệt hoàn toàn, chúng tôi khốn khổ vì cái mỏ đất này”.

Hồ sơ “bất hảo” của Công ty Quyết Tiến khi triển khai dự án khai thác đất núi Bu Lu tại xã Lê Ninh

Trong một diễn biến khác, theo tài liệu mà PV thu thập được, trong các năm 2017, 2018 và hiện nay Công ty Quyết Tiến liên tục có những việc làm thể hiện sự coi thường chính quyền địa phương, và người dân có đất bị thu hồi để làm dự án. Cụ thể:

Năm 2017, khi Hội đồng giải phóng mặt bằng chưa hoàn thiện hồ sơ và công ty chưa đền bù đất đai, cây cối, mộ chí cho người dân, nhưng đơn vị này vẫn tổ chức thực hiện khai thác, vận chuyển đất đi bán.

Tiếp đó, ngày 5/6/2018, UBND xã Lê Ninh phải ra Công văn số 25/CV-UBND về việc yêu cầu khắc phục hậu quả khi thực hiện khai thác đất đồi núi Bu Lu đối với Công ty Quyết Tiến.

Theo đó, khi thực hiện giai đoạn 2 dự án, Công ty Quyết Tiến còn nợ xã Lê Ninh hơn 1 tỷ đồng tiền bồi thường đất núi của xã. Hơn nữa các hồ sơ, thủ tục bàn giao đất giai đoạn 2 chưa thực hiện, nhưng công ty vẫn cho khai thác sang phần diện tích đất thuộc giai đoạn này. Do công tác chuẩn bị chưa xong, nên việc khai thác này đã làm sỏi, đá đổ dồn từ trên núi xuống đất, vườn của một số hộ dân. Đặc biệt, hộ ông Bình còn bị nước tràn vào nhà, ngập khoảng 40 cm làm ướt hết thóc, đồ đạc trong nhà.

Mới đây nhất, ngày 10/8/2020, chính quyền xã Lê Ninh lập biên bản làm việc với Công ty Quyết Tiến, để giải quyết những phản ánh của người dân xóm 17, thôn Ninh Xá về việc công ty khai thác đất gây ô nhiễm môi trường về tiếng ồn, khói bụi trong khu dân cư, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của các hộ gia đình…

Với hàng loạt sai phạm đã được lập thành biên bản như trên, nhưng kỳ lạ là trong toàn bộ hồ sơ mà chúng tôi thu thập được, cũng như tài liệu xã Lê Ninh cung cấp. Tuyệt nhiên không thấy “bóng dáng” quyết định hay văn bản xử lý vi phạm hành chính nào đối với Công ty Quyết Tiến (?!).

Về nội dung này, nhiều ý kiến thắc mắc, với bề dày thành tích “vô tiền khoáng hậu” nêu trên, không hiểu bằng cách nào đó mà Công ty Quyết Tiến lại lọt qua được quá trình thẩm định, đánh giá hồ sơ năng lực rất khắt khe của các ngành chức chức năng, trước khi được UBND tỉnh Hải Dương cấp phép khai thác khoáng sản?

Người dân sống quanh khu vực chân núi Bu Lu bị ô nhiễm nặng nề từ việc khai thác đất của Công ty Quyết Tiến

Từ những căn cứ, phản ánh trên rất cần ý kiến của lãnh đạo UBND tỉnh Hải Dương chỉ đạo các cơ quan chức năng, đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh tiến hành kiểm tra, rà soát lại hồ sơ cấp phép khai thác khoảng sản của Công ty Quyết Tiến. Nếu phát hiện doanh nghiệp này đã hết thời hạn khai thác, thì cần phải có biện pháp ngăn chặn kịp thời, để tránh thất thoát tài nguyên quốc gia, gây thất thu ngân sách nhà nước. Trường hợp đơn vị này đề nghị gia hạn giấy phép khai thác đất dự án trên, thì cần thận trọng xem xét những “vấn đề” của công ty này.

Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử sẽ tiếp tục thông tin sự việc.

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Nhiều dự án sai phạm

Theo Thanh tra Chính phủ (TTCP), đơn vị này tiến hành thanh tra 32 dự án và 3 trường hợp chuyển đổi nhà đất công có vị trí đắc địa sang mục đích khác. Các dự án bị thanh tra được thực hiện từ tháng 1/2010 đến tháng 6/2017.

Cụ thể: trường hợp chuyển đổi nhà, đất công có vị trí đắc địa sang mục đích khác có 3 dự án, gồm: Nhà đất 68 đường Thống Nhất, nhà đất số 1 đường Quang Trung và nhà đất 9B đường Hoàng Hoa Thám, Tp. Nha Trang. 3 trường hợp này, cơ quan thanh tra xác định khi giao nhà, đất cho doanh nghiệp, tỉnh Khánh Hòa không niêm yết việc bán đấu giá tài sản, nơi bán đấu giá; không thông báo công khai ít nhất 2 lần trên phương tiện thông tin đại chúng. Việc này vi phạm Nghị định 17/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản công, dẫn đến nguy cơ thất thu ngân sách Nhà nước.

Nhiều dự án tại Tp. Nha Trang thực hiện trái với quy hoạch

Với 10 dự án có sử dụng đất thuộc diện được ưu đãi đầu tư, TTCP phát hiện tỉnh Khánh Hòa không thực hiện đấu thầu để lựa chọn nhà đầu tư. Việc này vi phạm các quy định tại Điều 54 Luật Đầu tư 2005.

Trong 6 dự án có sử dụng đất thuộc diện không phải thực hiện đấu thầu giá quyền sử dụng đất, UBND Khánh Hòa đã không thực hiện việc đấu thầu, lựa chọn nhà đầu tư theo các quy định tại Điều 54 Luật Đầu tư 2005 khi lựa chọn nhà đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT).

13 dự án đầu tư sử dụng nguồn gốc đất công, cơ quan thanh tra xác định UBND tỉnh Khánh Hòa khi lựa chọn nhà đầu tư, cấp GCNĐT đã không thực hiện việc đấu thầu dự án để lựa chọn nhà đầu tư hoặc không thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất.

Một dự án thuộc lĩnh vực được ưu đãi đầu tư, nhưng UBND tỉnh Khánh Hòa khi lựa chọn chủ đầu tư lại không thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư là vi phạm Điều 54 Luật Đầu tư 2005; không thực hiện việc bán đấu giá tài sản trên đất là vi phạm các quy định về quản lý tài sản Nhà nước; sử dụng đất kinh doanh cà phê và 8 cửa hàng kinh doanh khác là trái mục đích sử dụng đất, vi phạm pháp luật về đất đai.

Một dự án sử dụng đất đang thuê để liên kết đầu tư nhưng không chuyển quyền sử dụng đất, đó là khu đất số 2 đường Lê Hồng Phong, phường Phước Hải, Tp. Nha Trang. TTCP kết luận, UBND tỉnh Khánh Hòa cho phép đầu tư xây dựng siêu thị là sai quy hoạch. Vì trước đó, khu đất này được quy hoạch làm trụ sở cơ quan, văn phòng.

Ngoài ra, TTCP còn phát hiện một số dự án được UBND tỉnh Khánh Hòa giao đất, cấp GCNĐT đầu tư cách đây cả chục năm, nhưng dự án chậm tiến độ nghiêm trọng vẫn không bị xử lý. Cụ thể, một số dự án chậm tiến độ như: Khu du lịch nghỉ dưỡng Trần Thái được cấp GCNĐT năm 2009; khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng cao cấp Eurowindow Nha Trang được cấp GCNĐT năm 2008; dự án Evason Ana Mandara Cam Ranh Reort & Spa được cấp GCNĐT năm 2014…

Làm trái quy hoạch

Kết luận TTCP còn chỉ rõ, một số dự án được UBND tỉnh Khánh Hòa giao cho doanh nghiệp trái với quy hoạch chung Tp. Nha Trang đã được Thủ tướng phê duyệt năm 2012; trái với quy hoạch sử dụng đất của địa phương. Trong đó, dự án Tổ hợp khách sạn, căn hộ cao cấp Mường Thanh Nha Trang (số 60 Trần Phú, Tp. Nha Trang) làm trái quy hoạch của Thủ tướng về quy hoạch chung TP.

Trước khi có dự án, khu đất rộng hơn 4.500 m2 này thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty Du lịch Khánh Hòa (công ty Nhà nước). Sau đó, đơn vị này liên doanh góp vốn với DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên để thực hiện dự án. Đến tháng 9/2012, UBND tỉnh Khánh Hòa cấp GCNĐT để thực hiện dự án trên.

Theo TTCP, dự án này được UBND tỉnh Khánh Hòa đồng ý giao cho DNTN Xây dựng số 1 Điện Biên không qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; không đấu giá tài sản trên đất.

Ngoài ra, khi thực hiện dự án, UBND tỉnh Khánh Hòa cho phép điều chỉnh số tầng (45 tầng nổi + 2 tầng hầm). Sở Xây dựng sau đó cấp phép xây dựng 46 tầng nổi, 2 tầng áp mái, 2 tầng hầm là vi phạm quy hoạch chung của Tp. Nha Trang được Thủ tướng phê duyệt năm 2012 (không quá 40 tầng).

Bên cạnh đó, TTCP còn phát hiện một loạt dự án được tỉnh Khánh Hòa giao cho doanh nghiệp trái luật. Điển hình như dự án Khu thương mại và dịch vụ khách sạn Đông Hải, ở phường Cam Thuận, Tp. Cam Ranh, do Công ty CP và Phát triển Đông Hải làm chủ đầu tư. UBND tỉnh Khánh Hòa lựa chọn nhà đầu tư nhưng không thông qua đấu thầu, trái với quy định tại Điều 54 Luật Đầu tư 2005; cho Công ty Đông Hải thuê đất thực hiện dự án là trái với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và không có trong quy hoạch sử dụng đất thời kỳ đầu 2011-2015 của Tp. Cam Ranh.

Cơ quan thanh tra còn xác định, từ tháng 1/2010 đến tháng 6/2017, một loạt vị trí đất công đã được UBND tỉnh Khánh Hòa bán, cho thuê hoặc cho phép liên kết, liên doanh theo hình thức chỉ định mà không bán đấu giá công khai. Điển hình như các khu đất thực hiện dự án: Cao ốc khách sạn - Thương mại Khatoco (số 7-9 đường Biệt Thự); dự án khách sạn Xanh Nha Trang (44 Nguyễn Thị Minh Khai); dự án khách sạn Starcity (72-71 Trần Phú)… Điều này đã vi phạm về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước; vi phạm Luật Đất đai năm 2013 và vi phạm Luật Đấu thầu 2005.

Kiến nghị xử lý nghiêm sai phạm

Để xảy ra những sai phạm trên, theo TTCP, trách nhiệm trước hết thuộc về chủ tịch và các phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa từ năm 2010 đến 2017. Vì vậy, TTCP kiến nghị Thủ tướng xử lý kỷ luật nghiêm trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm người đứng đầu UBND tỉnh Khánh Hòa từ năm 2010 đến 2017.

TTCP kiến nghị hình thức kỷ luật phù hợp đối với các phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa có liên quan đến những vi phạm đã nêu trong kết luận. Đồng thời, cơ quan chức năng cần làm rõ trách nhiệm và theo thẩm quyền, có hình thức xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu các sở, ngành, đơn vị có liên quan, chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu phát hiện vi phạm có dấu hiệu tư lợi.

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Mới đây, UBND tỉnh Vĩnh Phúc vừa có văn bản yêu cầu các huyện, Thành phố và giao cho các sở ban ngành liên quan để kiểm tra xử lý các trường hợp xe có dấu hiệu quá khổ, quá tải và khai thác đất trái phép.

Tuy nhiên, tại xã Yên Thạch - huyện Sông Lô, theo phản ánh của người dân và ghi nhận của PV trong thời gian dài, hàng vạn mét khối đất đang bị các đối tượng ngang nhiên khai thác trái phép.

Cụ thể, tại thôn Minh Khai, cạnh đường tỉnh 306, một quả đồi bị múc nham nhở, từng đoàn xe ben loại lớn 4 chân, 6 chân thay nhau vào "ăn" đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của người dân.

Quá trình thị sát, PV Môi trường và Đô thị Việt Nam tiếp tục phát hiện tại thôn Thống Nhất, thôn Đại Thắng cũng xuất hiện các đối tượng khai thác đất trái phép. Điều ngạc nhiên trong quá trình ghi nhận, chúng tôi không thấy bóng dáng các cơ quan chức năng địa phương?

Hàng vạn m3 đất bị khai thác trái phép tại xã Yên Thạch - Sông Lô

Trong khi đó, ông Nguyễn Trọng Nguyên (cán bộ địa chính xã Yên Thạch) thì "xã có nắm được sự việc và đã lập biên bản đình chỉ, tuy nhiên do sự việc vượt quá thẩm quyền của chính quyền địa phương nên xã đã làm báo cáo lên UBND huyện để có phương án xử lý, và với lý do, các anh cũng thông cảm cho xã vì máy hôm nay bận nhiều việc quá và không phải ngày nào cũng đi kiểm tra được".

Trả lời Môi trường và Đô thị Việt Nam, ông Đỗ Phúc Dương (Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường huyện Sông Lô), cho biết " hiện trên địa bàn huyện Sông Lô chỉ có duy nhất một mỏ được cấp phép đó là mỏ tại xã Đồng Thịnh", khi được PV cung cấp hình ảnh về việc hiện tại trên địa bàn xã Yên Thạch đang có nhiều điểm bị các đối tượng ngang nhiên khai thác trái phép và vận chuyển đất ra khỏi địa bàn, thì ông Dương cho biết, trách nhiệm chính khi để xảy ra sự việc là của chính quyền địa phương, UBND huyện đã có văn bản gửi các địa phương trên địa bàn toàn huyện và văn bản riêng cho UBND xã Yên Thạch.

Ông Đỗ Phúc Dương (Trưởng phòng TNMT) huyện Sông Lô trả lời Môi trường và Đô thị Việt Nam

Khi PV đặt tiếp câu hỏi, nếu chính quyền địa phương vẫn mải báo cáo rồi quy trách nhiệm mãi thì khi các đối tượng khai thác xong đất thì làm thế nào thì ông Dương im lặng?.

Ở một diễn biến khác, PV Môi trường và Đô thị Việt Nam đã đặt nội dung làm việc với công an huyện Sông Lô nhưng vẫn chưa nhận được câu trả lời chính thức từ phía cơ quan này.

Rõ ràng tình trạng khai thác đất trái phép trên địa bàn huyện Sông Lô đang diễn ra phức tạp, dư luận không khỏi hoài nghi có sự "che chắn" nhất định vì nếu không thì sao có chuyện hàng vạn m3 đất dễ dàng vận chuyển ra khỏi địa bàn thuận lợi như vậy?.

Theo tìm hiểu "người vận chuyển" đất tại xã Yên Thạch tên là T., số lượng đất trái phép này được vận chuyển tới một nhà máy sản xuất gạch trên địa bàn huyện Phúc Yên.

Đề nghị UBND tỉnh Vĩnh Phúc vào cuộc xem xét chỉ đạo, xử lý ngay các đối tượng đang có hành vi khai thác đất trái phép trên, qua đó xem xét trách nhiệm của chính quyền xã Yên Thạch, UBND huyện Sông Lô và các cơ quan chức năng trong việc này.

Môi trường và Đô thị sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc.

Let's block ads! (Why?)

Read more
Thứ Năm, 5 tháng 11, 2020
no image

Tại phiên phiên thảo luận các vấn đề liên quan tới tình hình phát triển kinh tế - xã hội Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, ngày 4-11, đại biểu Vũ Thị Nguyệt (Hưng Yên) đã đề cập đến thực trạng ô nhiễm môi trường do nước thải trong sinh hoạt và chăn nuôi ở khu vực nông thôn ở nhiều địa phương.

Theo đại biểu, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã mang lại hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt ở nhiều vùng nông thôn.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được, các vùng nông thôn vẫn còn rất nhiều các vấn đề cần được quan tâm và cần sớm có phương án giải quyết để nâng cao chất lượng đời sống của người dân, trong đó có vấn đề ô nhiễm nguồn nước tại các khu vực nông thôn.

Riêng đối với rác thải sinh hoạt, hiện nay các địa phương đã có nhiều giải pháp từ phân loại, thu gom, xử lý nhưng đối với nước thải thì hiện nay, lượng nước thải ở khu vực nông thôn thải ra môi trường rất lớn, gây ô nhiễm môi trường sống, làm ô nhiễm các dòng sông, nguồn nước dùng trong sinh hoạt và cả sản xuất nông nghiệp.

“Thực tế, khi về các vùng nông thôn thì không khó để có thể thấy tình trạng nước thải sinh hoạt chảy tràn ra đường, ao hồ, sông ngòi, vừa xấu về hình ảnh và vừa gây khó chịu do mùi, rất nhiều hệ thống kênh mương có chiều dài vài km cũng có tình trạng như vậy. Hình ảnh những con sông êm đềm, xanh ngát đã dần dần thay thế bằng những dòng sông chết, bởi chúng phải hứng chịu chất thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi của người dân, bên cạnh nước thải từ các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu làng nghề. Lượng nước thải này ngấm xuống đất làm ô nhiễm không chỉ nước mặt mà đối với cả nước ngầm, tồn tại từ năm này sang năm khác, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, sinh hoạt, môi trường sinh thái cũng như sản xuất của người dân”, đại biểu Vũ Thị Nguyệt phản ánh.

Hiện nay, nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi chỉ có một phần nhỏ là được xử lý, còn đa phần là thải trực tiếp ra môi trường hoặc tự thấm mà chưa được thu gom, xử lý triệt để đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Nhiều cuộc giám sát về chất lượng nước mặt của các cơ quan chức năng cho thấy có nhiều thông số nguy hại vượt quy chuẩn quốc gia về môi trường. Dẫn số liệu nghiên cứu của Viện Nước tưới tiêu và môi trường ở một địa phương về nước mặt, nước ngầm và hệ thống tưới tiêu cho thấy ở ao, hồ, đại biểu cho biết, có khoảng 13% mẫu nước ô nhiễm ở mức độ nghiêm trọng và không sử dụng được cho một mục đích nào, 25% chỉ sử dụng được cho mục đích giao thông thủy lợi, có 48% có thể sử dụng được cho mục đích tưới tiêu và chỉ có khoảng 18% có thể sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt. Đối với nguồn nước ngầm thì các chỉ tiêu về xitrat, mangan, sắt, chì đều vượt các ngưỡng tiêu chuẩn.

“Đây không phải là con số đại diện cho tình trạng nguồn nước chung trên cả nước nhưng cũng là những con số rất có ý nghĩa để chúng ta phải suy ngẫm. Bởi ở nông thôn thì đây là nguồn nước chính phục vụ cho tưới tiêu, cây trồng cũng như phục vụ cho sản xuất nông nghiệp”, bà Nguyệt cho biết.

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở nông thôn có tác động rất lớn tới cuộc sống của người dân, về cảnh quan môi trường, về nguồn nước sinh hoạt, và nhất là ảnh hưởng tới cây trồng, nuôi trồng thủy sản.

Mặc dù, đây là nguồn ô nhiễm chất hữu cơ nhưng khi lượng chất hữu cơ này vượt quá khả năng tiếp nhận nguồn nước thì sẽ tiêu thụ hết hết lượng ôxy, dẫn đến các loài thủy sản không có ôxy và bị chết. Tình trạng cá chết hoặc giảm năng suất, chất lượng của các loài thủy sản cũng là khá phổ biến.

Số liệu điều tra ở vùng có ô nhiễm cho thấy, phụ nữ ở các khu vực này mắc các bệnh về phụ khoa và da liễu tăng. Tỷ lệ người dân mắc các bệnh về đường tiêu hóa, ung thư tăng và thực tế chúng ta cũng từng nghe nói tới các làng ung thư.

Nguyên nhân, theo đại biểu, là có cả yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó, do lượng rác thải và mức độ ô nhiễm của nguồn nước thải ngày nay càng tăng; nước thải sinh hoạt ở khu vực nông thôn hầu như chưa được xử lý mà đều để tự ngắm hoặc là đổ thẳng ra môi trường; đầu tư cơ sở hạ tầng ở nông thôn chưa được quan tâm ở các giai đoạn trước đây, rất nhiều địa phương chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt cũng như là nước thải trong chăn nuôi.

Bên cạnh đó, người dân chưa thực sự ý thức được trách nhiệm và vai trò trong việc quản lý nguồn nước thải cũng như chưa được hướng dẫn một cách đầy đủ các biện pháp để xử lý các nguồn nước thải này; tình trạng các hộ chăn nuôi lớn vẫn còn nằm xen kẽ ở trong các khu dân cư. Công nghệ và chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình xử lý nước thải và cơ chế vận hành của các công trình này thì còn hạn chế.

Trước thực trạng môi trường nông thôn bị rác thải sinh hoạt, chăn nuôi gây ô nhiễm thì người dân cũng hết sức bức xúc và nhiều lần kiến nghị tới các cấp chính quyền. Đặc biệt là, trong các buổi tiếp xúc cử tri của nhiều đoàn đại biểu Quốc hội thì cử tri cũng phản ánh nội dung này.

Thực tế ở các địa phương thì chính quyền cũng đã vào cuộc, cũng đã có bước đầu xử lý nước thải ở khu vực nông thôn như là mô hình xử lý nước thải theo hộ hoặc một số hộ gia đình. Một số loại mô hình xử lý bước đầu cho kết quả khả quan thì số lượng còn rất là ít, còn một số các loại mô hình khác cho hiệu quả thấp do cách vận hành chưa đúng, chưa bài bản cũng như là thiếu nguồn lực để có thể duy trì các công trình này.

Để giải quyết được thực trạng trên, góp phần xây dựng các mục tiêu về nông thôn mới một cách bền vững hơn, đại biểu kiến nghị, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong việc kiểm soát nguồn nước thải từ chính gia đình cũng như từ khu vực xung quanh.

Chính quyền các địa phương cần có phương án và quyết liệt di dời các hộ chăn nuôi còn xen kẽ trong các vùng dân cư ra khu vực tập trung riêng để thuận tiện cho việc thu gom cũng như là xử lý nước thải về chăn nuôi.

Ngoài ra, theo đại biểu, cần áp dụng công nghệ tiên tiến phù hợp và nhà nước cần phải hỗ trợ kinh phí để xây dựng các công trình thu gom, xử lý nước thải và đặc biệt là hỗ trợ kinh phí để có thể duy trì vận hành các công trình này.

Let's block ads! (Why?)

Read more
no image

Thời gian gần đây, lợi dụng tình trạng khan hiếm căn hộ, đất nền tại TP. Hà Nội. Một số cá nhân, doanh nghiệp bất động sản đã ồ ạt thu gom, chuyển nhượng đất nông nghiệp và những loại đất khác chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng đất rồi tự ý làm hạ tầng để phân lô, bán nền tại một số quận, huyện vùng ven đô Hà Nội khi chưa được cấp phép.

Khu đất được giới thiệu là dự án Hòa Lạc Charm Villas thôn Đồng Chằm, xã Đông Xuân, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội

Theo phản ánh của người dân tại thôn Đồng Chằm, xã Đông Xuân, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội, gần đây tại địa phương xuất hiện tình trạng người dân tự lập dự án mang tên “Hòa Lạc Charm Villas” rồi quảng cáo, rao bán trên mạng xã hội để thu hút đầu tư có nhiều dấu hiệu không tuân thủ pháp luật đất đai và pháp luật môi trường.

Bản đồ quy hoạch sử dụng đất và phân khu chức năng theo các giai đoạn được giới thiệu tại dự án

Ghi nhận thực tế của phóng viên Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử tại dự án mà người dân phản ánh. Trước mắt PV 1 quả đồi rộng lớn bị Chủ đầu tư dự án múc đất san gạt một khu đất theo hình bậc thang có diện tích hàng nghìn mét vuông. Phía bên trong dự án đã được xây dựng hạ tầng đường giao thông trải nhựa, điện cao áp, các lô đất được chủ đầu tư phân chia rõ ràng.

Một người dân sinh sống tại đây cho biết: Người ta san hạ một phần quả đồi này để làm dự án nhà ở, dạo gần đây cũng thi thoảng thấy có người đến hỏi và xem đất. Nhưng nhìn thấy địa hình khu đất để làm nhà ở này phía trên là "taluy" cao rất nguy hiểm, nguy cơ sạt lở cao nên họ cũng ngao ngán rời đi.

Dự án nằm dưới "taluy"có độ dốc cao, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở đất rất nguy hiểm

Trong vai khách hàng mua đất tại dự án, PV được một nhân viên bán hàng của chủ đầu tư dự án tại đây tư vấn: Dự án này mang tên Charm Villas với quy mô 35 căn biệt thự và tiện ích công cộng. Giá mỗi mét vuông ở đây giao động từ 15-17tr/m2.

Và đặc biệt nhấn mạnh về pháp lý của dự án nhân viên bán hàng này hồ hở giới thiệu: Ở đây, như anh thấy có nhiều dự án phân lô, bán nền nhưng duy chỉ có dự án bên em có đầy đủ sổ đỏ cho khách.

Để giải đáp thắc mắc của dư luận, phóng viên đã liên hệ trao đổi nhanh qua điện thoại với ông Bùi Tiền Linh – Chủ tịch UBND xã Đông Xuân, ông Linh khẳng định: Tại địa phương không có dự án nào mang tên: “Hòa Lạc Charm Villas by Xanh Group. Đấy chỉ là các cá nhận tự phát rồi đặt tên là dự án”.

"Về việc này, UBND xã đã có báo cáo lên Trung tâm phát triển quỹ đất về nguồn gốc đất đấy". ông Linh cho biết thêm.

Một biển tên được xây dựng rất chuyên nghiệp tại đây.

Tuy nhiên, trách nhiệm của chính quyền địa phương không chỉ dừng lại ở mức độ báo cáo. Có thể hiểu trách nhiệm còn nằm ở việc việc phân lô bán nền nhiều thửa đất với quy mô như vậy cần phải tính toán đến vấn đề môi trường và các vấn đề liên quan đến hạ tầng...Cụ thể như tại "dự án ma" Hòa Lạc Charm Villas tại xã Đông Xuân việc xây dựng hạ tầng đường giao thông như vậy thì chính quyền xã Đông Xuân, Trung tâm phát triển quỹ đất, UBND huyện Quốc Oai cần phải xác định nguồn gốc đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất để làm đường giao thông...

Đặc biệt là việc đảm bảo an toàn cho người dân khi đi vào ở, xây dựng nhà cửa, sinh hoạt tại đây trước nguy cơ sạt lở. Chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cần phải tính toán, khảo sát kỹ việc này, không nên chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở một cách ồ ạt. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho người dân cần bám sát thực tế chứ không thể chỉ ký và chuyển đổi dựa trên giấy tờ được!

Bài tiếp: UBND xã Đông Xuân nói gì về nguồn gốc đất tại đây...

Let's block ads! (Why?)

Read more